Từ điển Hán Việt
15.615 chữ Hán Việt từ Unicode Unihan database (UAX #38) - phiên âm, nét Khang Hy, bộ thủ, ngũ hành dùng đặt tên.
Tra cứu chữ Hán Việt theo Unicode chuẩn
Hán Việt (漢越) là cách đọc chữ Hán theo âm Việt - hệ thống phiên âm hình thành qua hơn nghìn năm tiếp xúc văn hoá Việt - Trung, được dùng trong văn chương cổ điển, văn bia, lịch pháp và đặt tên người Việt cho tới ngày nay. Mỗi chữ Hán mang một âm Hán Việt riêng - chữ 明 đọc là minh, chữ 山 đọc là sơn, chữ 學 đọc là học.
Từ điển này tổng hợp 15.615 chữ Hán có âm Hán Việt theo Unicode Unihan database (chuẩn UAX #38 của tổ chức Unicode Consortium, thuộc tính kVietnamese). Mỗi chữ kèm: số nét theo Khang Hy Tự Điển 康熙字典, bộ thủ trong 214 bộ Khang Hy, phiên âm Pinyin Hán Đại Tự Điển, định nghĩa tham khảo, và với ~105 chữ thường dùng đặt tên người Việt còn có thêm ngũ hành, gợi ý giới tính, vị trí phù hợp trong tên (đệm/tên chính).
Quý gia chủ có thể tra theo nhiều cách: gõ âm Hán Việt (vd minh), gõ chữ Hán trực tiếp (vd 明), gõ pinyin (vd míng), hoặc gõ từ nghĩa (vd sáng). Có thể lọc theo ngũ hành Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ, theo giới tính phù hợp khi đặt tên, hoặc theo vai trò (họ - đệm - tên chính). Click vào một chữ để xem chi tiết: nguồn dẫn cổ thư, các chữ liên quan cùng bộ thủ, và liên kết đến công cụ luận tên cho bé.
Danh sách chữ Hán Việt
- Thức6 nét— bộ 56.3— shì
Phép. Sự gì đáng làm khuôn phép gọi là túc thức [足式]. · Chế độ. Như trình thức [程式], thức dạng [式樣] đều nghĩa là cái khuôn mẫu cho người theo cả. · Lễ. Như khai hiệu thức [開校式] lễ khai tràng, truy điệu thức [追悼式] lễ truy điệu, v.v. · Lễ kính. Xe ngày xưa trên có một cái đòn ngang, khi gặp cái gì đáng kính thì cúi xuống mà tựa gọi là bằng thức [憑式]. Nguyễn Du [阮攸] : Hành sắc thông thông tuế vân mộ, Bất câm bằng thức thán Quy dư [行色匆匆歲雲暮, 不禁憑式歎歸與] (trên đường đi qua quê hương đức Khổng Tử : Đông lộ [東路]) Cuộc hành trình vội vã, năm đã muộn, Không khỏi phải tựa đòn ngang xe mà than Về thôi. · Lời phát ngữ. Như thức vi thức vi [式微式微] suy lắm, suy lắm rồi ! · Dùng.
- Trận9 nét— bộ 170.7— zhèn
Hàng trận, hàng lối quân lính. Cho nên chia bày đội quân gọi là trận. · Nói rộng ra thì tả cái khí thế của cán bút viết cũng gọi là bút trận [筆陣]. · Phàm cái gì mà khí thế nó dồn dập đến nối đuôi nhau thì mỗi một lần nó dồn đến gọi là trận. Như ta nói trận gió, trận mưa, v.v. Đánh nhau một bận gọi là trận. Hàn Ác [韓偓] : Tạc dạ tam canh vũ, Kim triêu nhất trận hàn [昨夜三更雨,今朝一陣寒] (Lãn khởi [懶起]) Đêm qua mưa ba canh, Sáng nay lạnh một cơn.
- Vĩ11 nét— bộ 9.9— wěi
Lạ, lớn. Như tú vĩ [秀偉] tuấn tú lạ, vĩ dị [偉異] lớn lao lạ, v.v. đều là dùng để hình dung sự vật gì quí báu, hiếm có, và hình vóc cao lớn khác thường cả. Người nào có công to nghiệp lớn đều gọi là vĩ nhân [偉人].
- Nghị20 nét— bộ 149.13— yì
Bàn, bàn về sự lý để phân biệt phải trái gọi là luận [論], bàn về sự lý để định việc nên hay không gọi là nghị [議]. Như hội nghị [會議] họp bàn, quyết nghị [決議] bàn cho quyết xong để thi hành. · Một lối văn. Như tấu nghị [奏議] sớ tâu vua và bàn các chánh sách hay dở thế nào. · Chê. Luận ngữ [論語] : Thiên hạ hữu đạo, tắc thứ nhân bất nghị [天下有道則庶人不議] (Quí thị [李氏]) Thiên hạ có đạo thì kẻ thứ nhân không chê. · Kén chọn.
- Khách9 nét— bộ 40.6— kè
Khách, đối lại với chủ [主]. · Gửi, trọ, ở ngoài đến ở nhờ gọi là khách. · Mượn tạm. Như khách khí dụng sự [客氣用事] mượn cái khí hão huyền mà làm việc, nghĩa là dùng cách kiêu ngạo hão huyền mà làm, chớ không phải là chân chính. · Tục cho sự giả bộ ngoài mặt không thực bụng là khách khí [客氣]. Như ta quen gọi là làm khách vậy.
- Tinh9 nét— bộ 72.5— xīng
Sao. Như hằng tinh [恆星] sao đứng, hành tinh [行星] sao đi, vệ tinh [衛星] sao hộ vệ, tuệ tinh [慧星] sao chi, v.v. · Sao đêm mọc nhiều, sáng lặn dần, cho nên vật gì thưa ít gọi là liêu lạc thần tinh [寥落晨星] vắng vẻ như sao ban sáng. · Sao nhỏ mà nhiều, cho nên số gì nhỏ mọn gọi là linh tinh [零星], từng giọt, từng cái. Như tinh tinh bạch phát [星星白發] tóc bạc từng sợi. · Nghề tinh tường, người coi về các việc xem sao để nghiệm tốt xấu gọi là tinh gia [星家], xem ngày tháng sinh đẻ rồi lấy các ngôi sao ra mà tính số vận người gọi là tinh sĩ [星士] thầy số. · Sao tinh, một ngôi sao trong nhị thập bát tú. · Hoa cân, trong cán cân dùng hoa trắng ghi số cân lạng, v.v. gọi là tinh. · Tên một thứ âm nhạc.
- Bàn10 nét— bộ 137.4— pán
Quanh co. Như bàn du [般遊] chơi quanh mãi, bàn hoàn [般桓] quấn quít không nỡ rời. · Tải đi. Như bàn vận [般運] vận tải. · Một âm là ban. Về. Như ban sư [般師] đem quân về. · Bực. Như nhất ban [一般] một bực như nhau, giá ban [這般] bực ấy, v.v. · Lại một âm là bát. Như Bát-nhã [般若] dịch âm chữ Phạn prajna , nghĩa là trí tuệ, trí tuệ thanh tịnh.
- Tích16 nét— bộ 115.11— jī
Chứa góp. Như tích trữ [積貯] cất chứa cho nhiều. · Chồng chất. Như tích lũy [積累] chất chứa mỗi ngày một nhiều hơn. · Tích lâu. Như tích niên [積年] đã lâu năm. · Cái số nhân được. Như diện tích [面積] số đo bề mặt được bao nhiêu. · Một âm là tí. Chất đống, dành dụm.
- Thương11 nét— bộ 30.8— shāng
Đắn đo. Như thương lượng [商量], thương chước [商酌] nghĩa là bàn bạc, đắn đo với nhau. · Buôn. Như thương nhân [商人] người buôn, thương gia [商家] nhà buôn, v.v. · Tiếng thương, một trong năm thứ tiếng. Tiếng thương thuộc về mùa thu, nên gió thu gọi là thương tiêu [商飆]. · Sao thương, tức là sao hôm. · Nhà Thương, vua Thang thay nhà Hạ [夏] lên làm vua gọi là nhà Thương [商] (1700 trước CN). · Khắc, đồng hồ ngày xưa cho mặt trời lặn ba thương là buổi tối, thương tức là khắc vậy.
- Hạ9 nét— bộ 35.6— fù
Giản thể của chữ [復]. · Giản thể của chữ [複]. · Giản thể của chữ [覆].
- Ước9 nét— bộ 120.3— yuē
Thắt, bó. Như ước phát [約髮] búi tóc, ước túc [約足] bó chân. · Hạn chế. Như ước thúc [約束] thắt buộc, kiểm ước [檢約] ràng buộc, ý nói lấy lễ phép làm khuôn mà bắt phải theo để cho không vượt ra ngoài được. · Điều ước, hai bên lấy quyền lợi nghĩa vụ cùng ước hẹn với nhau gọi là ước. Như người nước này vào trong nước kia buôn bán, phải ký kết mọi điều với nhau để cùng noi giữ gọi là điều ước [條約]. · Ước hẹn, hẹn nhau ngày nào giờ nào đến gọi là ước. Như tiễn ước [踐約] y hẹn, thất ước [失約] sai hẹn, v.v. Nguyễn Trãi [阮廌] : Tha niên Nhị Khê ước, Đoản lạp hạ xuân sừ [他年淽溪約,短笠荷春鋤] (Tặng hữu nhân [贈友人]) Năm nào hẹn về Nhị Khê (quê hương của Nguyễn Trãi), Đội nón lá, vác cuốc đi làm vụ xuân. · Giản ước. Tự xử một cách sơ sài gọi là kiệm ước [儉約], ở cảnh nghèo khổ gọi là khốn ước [困約]. · Ước lược. Như đại ước [大約] cũng như ta nói đại khái, đại suất [大率], v.v. Nói không được tường tận gọi là ẩn ước [隱約],v.v. · Sự vật gì không biết được đích số gọi là ước. Như ta nói ước chừng, phỏng chừng, v.v. · Lúc cùng túng.
- Trùng6 nét— bộ 142.0— huǐ
Nguyên là chữ [虺], ngày xưa tục mượn thay chữ [蟲] : loài sâu bọ. · Giản thể của chữ 蟲
- Tham11 nét— bộ 28.9— shēn
Xen vào, can dự vào. Như xam mưu [參謀], xam chính [參正] nghĩa là cùng dự vào mà bàn mà làm việc vậy. · Vào hầu. Như xam yết [參謁], xam kiến [參見]. Các quan dưới vào hầu các quan trên gọi là đình xam [庭參]. · Trong nhà Phật đi tới các vị đạo cao đức trọng mà hỏi đạo gọi là đi xam. $ Ta quen đọc là tham trong những nghĩa ở trên. · Một âm là sâm. Thứ cỏ quý, dùng để làm thuốc. Như nhân sâm [人參], đảng sâm [党參], v.v. · Sao Sâm, một ngôi sao trong nhị thập bát tú. · Sâm si [參差] so le. Nguyễn Du [阮攸] : Y sức đa sâm si [衣飭多參差] (Ký mộng [記夢]) Áo quần thì lếch thếch. · Ba, tục dùng làm chữ tam viết kép [叁].
- Cử16 nét— bộ 134.10— jǔ
Cất lên, giơ lên, cất nổi. Như cử thủ [舉手] cất tay, cử túc [舉足] giơ chân, cử bôi [舉杯] cất chén, v.v. · Cử động. Như cử sự [舉事] nổi lên làm việc, cũng như ta nói khởi sự [起事]. Thế cho nên có hành động gì đều gọi là cử cả. Như cử động [舉動], cử chỉ [舉止], v.v. Sự không cần làm nữa mà cứ bới vẽ ra gọi là đa thử nhất cử [多此一舉]. · Tiến cử. Như suy cử [推舉] suy tôn tiến cử lên, bảo cử [保舉] bảo lĩnh tiến cử lên, v.v. Lệ thi hương ngày xưa ai trúng cách (đỗ) gọi là cử nhân [舉人]. · Phàm khen ngợi hay ghi chép ai cũng gọi là cử. Như xưng cử [稱舉] đề cử lên mà khen, điều cử [條舉] ghi tường từng điều để tiêu biểu lên. · Sinh đẻ, đẻ con gọi gọi là cử [舉], không sinh đẻ gọi là bất cử [不舉]. · Lấy được, đánh lấy được thành gọi là cử. Sử Kí [史記] : Hạng Vương văn Hoài Âm Hầu dĩ cử Hà Bắc [項王聞淮陰侯已舉河北] (Hạng Vũ bổn kỉ [項羽本紀]) Hạng Vương nghe tin Hoài Âm Hầu đã lấy Hà Bắc. · Bay cao, kẻ sĩ trốn đời gọi là cao cử [高舉]. Đời sau gọi những người có kẻ có tài hơn người là hiên hiên hà cử [軒軒霞舉] cũng noi nghĩa ấy. · Đều cả. Như cử quốc [舉國] cả nước. Liêu trai chí dị [聊齋志異] : Cử gia yến tập [舉家宴集] (Phiên Phiên [翩翩]) Cả nhà yến tiệc linh đình. · Đều. · Họp.
- Kiều16 nét— bộ 75.12— qiáo
Cái cầu (cầu cao mà cong). · Đồ gì có cái xà gác ngang ở trên cũng gọi là kiều. · Cái máy hút nước. · Cây cao. · Cây kiều. Cha con gọi là kiều tử [橋子]. Cũng viết là [橋梓]. Tục hay viết là [喬梓]. Xem chữ tử [梓]. · Một âm là khiêu. Cái xe đòn thẳng, tức là cái đăng sơn. · Lại một âm là cao. Nhanh nhẹn.
- Dục8 nét— bộ 130.4— yù
Nuôi, nuôi cho khôn lớn gọi là dục. · Sinh. Như dục lân [育麟] sinh con trai. · Thơ bé.
- Tả5 nét— bộ 48.2— zuǒ
Bên trái, phàm cái gì ở bên tay trái đều gọi là tả. Như hư tả dĩ đãi [虛左以待] để chừa bên trái xe để đợi người đến, ý nói cần dùng lắm. · Phía đông. Cách định phương hướng cho phương đông là bên tay trái, nên sơn đông [山東] gọi là sơn tả [山左], giang đông [江東] gọi là giang tả [江左], v.v. · Bất tiện. Như tả kế [左計] kế không hay, hai bên không hợp nhau gọi là tương tả [相左]. · Không được chính đính. Như tả đạo hoặc chúng [左道惑眾] đạo dối lừa chúng. · Giáng xuống, quan bị giáng chức gọi là tả thiên [左遷]. · Một âm là tá. Giúp, cũng như chữ tá [佐]. · Tiếng nói khiêm trong thư từ. Như dĩ ngu tá hữu [以娛左右] nghĩa là chỉ để làm vui cho người hầu hạ, chứ không dám nói ngay đến người mình nói vậy. · Chứng nghiệm. Như chứng tá [證左] người làm chứng.
- Tuy17 nét— bộ 172.9— suī
Dầu, dù. Dùng làm lời suy xét tưởng tượng. Như tuy nhiên [雖然] dầu thế, song le, tuy nhiên, v.v. · Con tuy, một giống thú như con lợn, mũi hếch lên, đuôi dài rẽ làm đôi. · Cùng nghĩa với chữ thôi [推] hay duy [惟].
- Ngư11 nét— bộ 195.0— yú
Con cá. Có rất nhiều thứ, mà thường dùng để làm đồ ăn, vì thế nên gọi sự hà hiếp người khác là ngư nhục [魚肉]. Như thế hào ngư nhục hương lý [勢豪魚肉鄉里] kẻ cường hào hà hiếp dân trong làng xóm. · Lạc kỳ hữu mi, lộc, ngư, miết 樂其有麋鹿魚鼈 (Mạnh Tử I-2).
- Binh7 nét— bộ 12.5— bīng
Đồ binh. Các đồ như súng ống, giáo mác đều gọi là binh khí [兵器]. Lính, phép binh bây giờ chia làm ba : (1) hạng thường bị ; (2) tục bị ; (3) hậu bị. Hiện đang ở lính gọi là thường bị binh, hết hạn ba năm về nhà ; có việc lại ra là tục bị binh ; lại đang hạn ba năm nữa rồi về là hậu bị binh, lại hết bốn năm cho về hưu hẳn, lại như dân thường.
- Mao4 nét— bộ 82.0— máo
Lông. Giống thú có lông kín cả mình nên gọi là mao trùng [毛蟲]. · Râu tóc người ta cũng gọi là mao. Như nhị mao [二毛] người đã hai thứ tóc (tuổi tác). · Loài cây cỏ. Như bất mao chi địa [不毛之地] đất không có cây cỏ. · Tục gọi đồ gì làm thô kệch không được tinh tế gọi là mao. · Phàm nói vật gì nhỏ mà nhiều cũng gọi là mao. Như mao cử tế cố [毛舉細故] cử cả những phần nhỏ mọn. · Nhổ lông. · Tục dùng thay chữ hào [毫] nói về hào ly [毫釐]. · Một âm là mô. Không.
- Tắc9 nét— bộ 18.7— zé
Phép. Nội các chế đồ khuôn mẫu gì đều gọi là tắc, nghĩa là để cho người coi đó mà bắt chước vậy. Như ngôn nhi vi thiên hạ tắc [言而為天下則] nói mà làm phép cho thiên hạ. · Bắt chước. · Thời, lời nói giúp câu. Như hành hữu dư lực tắc dĩ học văn [行有餘力則以學文] làm cho thừa sức thời lấy học văn.
- Hốt8 nét— bộ 61.4— hū
Nhãng. Như sơ hốt [疏忽] sao nhãng, hốt lược [忽略] nhãng qua, v.v. · Chợt. Như thúc hốt [倏忽] chợt thoáng, nói sự nhanh chóng, xuất ư bất ý, nói gọn chỉ nói là hốt. Như hốt nhiên [忽然] chợt vậy. · Số hốt. Phép đo có thước, tấc, phân, ly, hào, ty, hốt. Phép cân có lạng, đồng, phân, ly, hào, ty, hốt.
- Tiết13 nét— bộ 118.7— jié
Đốt tre, đốt cây. · Đốt xương. Như cốt tiết [骨節] đốt xương, chỉ tiết [指節] đốt ngón tay, vì thế nên vỗ tay gọi là kích tiết [擊節]. · Phàm sự gì có đoạn có mạch đều gọi là tiết. Như một đầu mối sự gì gọi là nhất tiết [一節], đầu mối rối beng gọi là chi tiết [枝節], văn chương có phân ra từng chương từng đoạn cũng gọi là chương tiết [章節]. · Trật tự. Như cử động phải có lễ tiết, hợp lễ phép gọi là trúng tiết [中節]. · Hát, múa, âm nhạc lúc mau lúc khoan có dịp gọi là ứng tiết [節] hay tiết tấu [節奏]. Cái dịp để hãm các âm nhạc cũng gọi là tiết. · Thời tiết, một năm chia ra 24 tiết. Như xuân phân [春分], lập xuân [立春], v.v. để chỉ rõ khí hậu nó biến đổi như thế nào. · Dè dặn, kiềm chế không cho quá độ gọi là tiết. Như tiết lao [節勞] bớt làm sự nhọc quá, tiết ai [節哀] bớt nỗi thương đi, v.v. · Giảm bớt đi. · Tri tiết, người biết tự ức chế mình cho hợp lễ nghĩa gọi là người có tiết tháo [節操]. Như danh tiết [名節], phong tiết [風節] đều một nghĩa ấy cả. Tục gọi đàn bà góa không đi lấy chồng là tiết phụ [節婦]. · Phù tiết [符節] ngày xưa đi sứ cầm cái ấn tín của vua mình đi để làm tin gọi là phù tiết, vì thế nên sau người ta gọi sứ giả là sứ tiết [使節]. · Ngày thọ của vua gọi là tiết. · Thứ bực. · Ngày tết. · Một âm là tiệt. Lộng lẫy, cao ngất.
- Suy11 nét— bộ 64.8— tuī
Đẩy lên. · Đổi dời đi. Như thôi trần xuất tân [推陳出新] đổi cũ ra mới. · Trút cho, đem cái của mình nhường cho người gọi là thôi. Như giải y thôi thực [解衣推食] cởi áo xẻ cơm cho. · Khước đi, từ thôi. · Chọn ra. Như công thôi [公推] mọi người cùng chọn mà tiến cử ra. · Tìm gỡ cho ra mối. Như thôi cầu [推求] tìm tòi, thôi tường [推詳] tìm cho tường tận. $ Có chỗ đọc là suy.
- Đoạn9 nét— bộ 79.5— duàn
Chia từng đoạn, vải lụa định mấy thước cắt làm một, mỗi tấm gọi là đoạn. · Phàm vật gì tính chia ra từng bộ đều gọi là đoạn. Như địa đoạn [地段] đoạn đất, thủ đoạn [手段] phương pháp làm việc, v.v. đều là theo cái ý từng thứ đoạn lạc cả. · Cùng nghĩa với chữ đoạn [毈].
- Thai5 nét— bộ 30.2— yí
Sao Thai. Tam thai [三台] sao Tam Thai. Sách thiên văn nói sao ấy như ngôi Tam Công [三公], cho nên trong thư từ tôn ai cũng gọi là thai. Như gọi quan trên là hiến thai [憲台], gọi quan phủ huyện là phụ thai [父台], gọi các người trên là thai tiền [台前] đều là theo cái nghĩa đó. · Thai cát [台吉] tên tước quan, bên Mông Cổ chia ra bốn thứ để phong các con em nhà vua. · Một âm là đài. Tục dùng như chữ đài [臺]. · Đài điếm [台站] đồn canh gác ngoài biên thùy. · Một âm là di. Ta, tôi tiếng tự xưng. · Vui lòng. · Giản thể của chữ [檯]. · Giản thể của chữ [臺]. · Giản thể của chữ [颱].
- Dịch8 nét— bộ 72.4— yì
Đổi. Hai bên lấy tiền hay lấy đồ mà đổi cho nhau gọi là mậu dịch [貿易]. Dịch tử nhi giáo [易子而教] Đổi con cho nhau mà dạy. Ngày xưa thường dùng cách ấy, vì mình dạy con mình thường không nghiêm bằng người khác. · Biến đổi, thay. Như biến dịch [變易] thay đổi, di phong dịch tục [移風易俗] đổi thay phong tục. · Kinh Dịch. Luận ngữ [論語] : Ngũ thập dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá hĩ [五十以學易,可以無大過矣] (Thuật nhi [述而]) Năm mươi tuổi học Kinh Dịch thì có thể không lầm lỗi lớn. · Tích dịch [辟易] lùi lại. · Một âm là dị. Dễ, đối lại với chữ nan [難] khó. · Sửa trị, làm. Mạnh Tử [孟子 : Dị kỳ điền trù, bạc kỳ thuế liễm, dân khả sử phú dã [易其田疇, 薄其稅斂, 民可使富也] (Tận tâm thượng [盡心上]) Cai quản ruộng đất, thâu thuế nhẹ, có thể làm cho dân giàu vậy. · Hòa bình. · Coi thường. Tả truyện [左傳] : Quý hóa dị thổ [貴貨易土] (Tương Công tứ niên [襄公四年]) Vật quý coi khinh như đất bùn. · Yên ổn.
- Mại15 nét— bộ 154.8— mài
Bán, lấy đồ đổi lấy tiền gọi là mại. Như đoạn mại [斷賣] bán đứt. · Làm hại người để lợi mình gọi là mại. Như mại quốc [賣國] làm hại nước, mại hữu [賣友] làm hại bạn.
- Lạc12 nét— bộ 140.9— luò
Rụng, lá rụng, hoa rụng gọi là lạc. Như ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu [梧桐一葉落,天下共知秋] một lá ngô đồng rụng, mọi người đều biết là mùa thu đến. · Cũng dùng để tả cái cảnh huống của người. Như lãnh lạc [冷落] lạnh lùng tẻ ngắt, luân lạc [淪落] chìm nổi, lưu lạc [流落], đọa lạc [墮落], v.v. đều chỉ về cái cảnh suy đồi khốn khổ cả, lạc thác [落魄] bơ vơ, người thất nghiệp không nơi nương tựa vậy. Nguyễn Trãi [阮廌] Nhất sinh lạc thác cánh kham liên [一生落魄更堪憐] (Mạn hứng [漫興]) Một đời luân lạc càng đáng thương. · Rơi xuống. Như lạc vũ [落雨] mưa xuống, lạc tuyết [落雪] tuyết sa, v.v. · Ruồng bỏ, không dùng cũng gọi là lạc. Như lạc đệ [落第] thi hỏng, lạc chức [落職] bị cách chức. · Sót, mất. Như lạc kỉ tự [落幾字] bỏ sót mất mấy chữ, san lạc phù từ [刊落浮詞] xóa bỏ lời nhảm nhí đi. · Thưa thớt. Như liêu lạc thần tinh [寥落晨星] lơ thơ sao buổi sáng. · Rộng rãi. Như khoát lạc [闊落]. · Chỗ ở, chỗ người ta ở tụ với nhau gọi là lạc. Như bộ lạc [部落] chòm trại, thôn lạc [村落] chòm xóm. Vì thế nên bờ rào bờ giậu cũng gọi là phan lạc [藩落], nền nhà gọi là tọa lạc [坐落], v.v. · Mới. Mới làm nhà xong làm tiệc ăn mừng gọi là lạc thành [落成]. · Lạc lạc [落落] lỗi lạc, không có theo tục. · Về. · Bỏ hổng. · Nước giọt gianh.
- Gang16 nét— bộ 167.8— gāng
Thép. Sắt luyện kỹ gọi là cương.
- Thất5 nét— bộ 37.2— shī
Mất. Như tam sao thất bản [三抄失本] ba lần chép lại thì đã làm mất hết cả gốc, ý nói mỗi lần chép lại là mỗi lần sai đi. · Lỗi. · Bỏ qua. · Có khi dùng như chữ dật [佚].
- Nguyện14 nét— bộ 61.10— yuàn
Thiện. Cẩn nguyện [謹愿] trung hậu thành thực. · Giản thể của chữ [願].
- Bì5 nét— bộ 107.0— pí
Da. Da giống thú còn có lông gọi là bì [皮], không có lông gọi là cách [革]. Nguyễn Du [阮攸] : Mao ám bì can sấu bất câm [毛暗皮乾瘦不禁] (Thành hạ khí mã [城下棄馬]) Lông nám da khô gầy không thể tả. · Bề ngoài. Như bì tướng [皮相] chỉ có bề ngoài. · Cái đích tập bắn.
- Chứng12 nét— bộ 149.5— zhèng
Can gián. · Tục mượn dùng như chữ chứng [證] nghĩa là chứng cớ. Như chứng thật [証實].
- Bằng8 nét— bộ 74.4— péng
Bè bạn. · Đảng. Như bằng tị vi gian [朋比爲奸] kết đảng làm gian. · Sánh tầy. Như thạc đại vô bằng [碩大無朋] to lớn không gì sánh tầy. · Năm vỏ sò là một bằng. Đời xưa dùng vỏ sò làm tiền, cho nên tạ ơn người ta cho nhiều của gọi là bách bằng chi tích [百朋之錫].
- Dương11 nét— bộ 170.9— yáng
Phần dương, khí dương. Trái lại với chữ âm [陰]. Xem lại chữ âm [陰]. · Mặt trời. Như sách Mạnh Tử [孟子] nói Thu dương dĩ bộc chi [秋陽以暴之] mặt trời mùa thu rọi xuống cho. · Hướng nam. Như thiên tử đương dương [天子當陽] vua ngồi xoay về hướng nam. · Chiều nước về phía bắc cũng gọi là dương. Như Hán dương [漢陽] phía bắc sông Hán. · Mặt núi phía nam cũng gọi là dương. Như Hành dương [衡陽] phía nam núi Hành. · Tỏ ra. Như dương vi tôn kính [陽爲尊敬] ngoài mặt tỏ ra đáng tôn kính. · Màu tươi, đỏ tươi. · Cõi dương, cõi đời đang sống. · Dái đàn ông. · Họ Dương.
- Tức7 nét— bộ 26.5— jí
Tục dùng như chữ tức [卽].
- Vi13 nét— bộ 60.10— wēi
Mầu nhiệm. Như tinh vi [精微], vi diệu [微妙] nghĩa là tinh tế mầu nhiệm không thể nghĩ bàn được. · Nhỏ. Như vi tội [微罪] tội nhỏ, vi lễ [微禮] lễ mọn. · Suy. Như thức vi [式微] suy quá. · Ẩn, giấu không cho người biết gọi là vi. Như vi phục [微服] đổi lốt áo xấu không cho ai biết mình, vi hành [微行] đi lẻn, v.v. · Chẳng phải, không. Luận ngữ [論語] : Vi Quản Trọng ngô kỳ bỉ phát tả nhẫm hĩ [微管仲吾其彼髮左衽矣] (Hiến vấn [憲問]) Nếu không có ông Quản Trọng, ta tất bị búi tóc mặc áo trái vạt vậy (như người Di [夷], Địch [狄]). Ý nói Quản Trọng đã có công chống với Di, Địch.
- Đình11 nét— bộ 9.9— tíng
Đứng, nửa chừng đứng lại gọi là đình. Như đình lưu [停留] dừng ở lại, đình bạc [停泊] đỗ thuyền lại, v.v. · Cư đình [居停] khách trọ. · Tục cho số người đã có định là đình. Như thập đình trung khứ liễu cửu đình [十停中去了九停] trong mười đình mất mất chín đình rồi (cũng như ta nói một nhóm một tốp vậy).
- Kì5 nét— bộ 113.0— shì
Thần đất, cùng nghĩa với chữ kì [祇]. · Một âm là thị. Bảo cho biết, mách bảo. Nay thường viết là [礻]. Tô Thức [蘇軾] : Cổ giả hữu hỉ tắc dĩ danh vật, thị bất vong dã [古者有喜則以名物, 示不忘也] (Hỉ vủ đình kí [喜雨亭記]) Người xưa có việc mừng thì lấy mà đặt tên cho việc để tỏ ý không quên.
- Cục7 nét— bộ 44.4— jú
Cuộc, bộ phận. Chia làm bộ phận riêng đều gọi là cục. Như việc quan chia riêng từng bọn để làm riêng từng việc gọi là chuyên cục [専局], cho nên người đương sự gọi là đương cục [當局] người đang cuộc, cục nội [局內] trong cuộc, cục ngoại [局外] ngoài cuộc, v.v. · Nghề đánh bạc cũng chia mỗi người một việc cho nên cũng gọi là cục. Mỗi một ván cờ gọi là một cục (một cuộc). · Thời thế biến thiên như thể bàn cờ, cho nên gọi việc nước vận đời là đại cục [大局] hay thời cục [時局]. · Khí phách độ lượng của một người cũng gọi là cục. Như khí cục [器局], cục lượng [局量], v.v. nghĩa là cái độ lượng dung được là bao nhiêu vậy. · Co. Như cục xúc [局促] co quắp.
- Bối9 nét— bộ 130.5— bèi
Vai, hai bên sau lưng ngang với ngực gọi là bối. Như bối tích [背脊] xương sống lưng, chuyển bối [轉背] xoay lưng, ý nói rất mau chóng, khoảnh khắc. · Vai ở đằng sau người, nên cái gì ở đằng sau cũng gọi là bối. Như ốc bối [屋背] sau nhà. · Vai lưng súc vật đều ở trên, cho nên cái gì ở trên cũng gọi là bối. Như kiều bối [橋背] sống cầu, lưng cầu, bồng bối [蓬背] mui thuyền, v.v. Nguyễn Du [阮攸] : Bán nhật thụ âm tùy mã bối [半日樹蔭隨馬背] (武勝關 [Vũ Thắng quan]) Suốt nửa ngày, bóng cây chạy theo lưng ngựa. · Mặt trái. Như chỉ bối [紙背] mặt trái giấy. · Một âm là bội. Trái. Như bội minh [背盟] trái lời thề. · Bỏ đi. Như kiến bội [見背] chết đi. Tô Mạn Thù [蘇曼殊] : Từ mẫu kiến bội [慈母見背] (Đoạn hồng linh nhạn kí [斷鴻零雁記]) Từ mẫu đã qua đời. · Đọc thuộc lòng. Như bội tụng [背誦] gấp sách lại mà đọc.
- Hiển23 nét— bộ 181.14— xiǎn
Rõ rệt. Như hiển nhi dị kiến [顯而易見] rõ rệt dễ thấy. · Vẻ vang. Như hiển quý [顯貴], hiển đạt [顯達] đều nghĩa là sang trọng vẻ vang cả. Vì thế nên kẻ phú quý cũng gọi là hiển giả [顯者]. · Con cháu gọi tổ tiên cũng xưng là hiển. Như bố đã chết gọi là hiển khảo [顯考], mẹ đã chết gọi là hiển tỉ [顯妣].
- Hoan21 nét— bộ 76.18— huān
Vui mừng. Như hoan lạc [歡樂] vui sướng. · Trai gái yêu nhau, bên gái gọi bên trai là hoan [歡], cũng như tiếng chàng của ta.
- Phu4 nét— bộ 37.1— fū
Đàn ông. Con trai đã nên người khôn lớn gọi là trượng phu [丈夫]. · Kẻ đi làm công gọi là phu. · Chồng. · Một âm là phù. Lời mở đầu, có ý chuyên chỉ vào cái gì. Như phù đạt dã giả [夫達也者] ôi đạt vậy ấy. · Lời nói đoạn rồi than. Như thệ giả như tư phù [逝者如斯夫] đi ấy như thế kia ư ?
- Dẫn4 nét— bộ 57.1— yǐn
Dương cung. Như dẫn mãn [引滿] dương hết cữ cung. · Dắt. Như dẫn nhi tiến chi [引而進之] dắt mà tiến lên. Hai bên cùng dắt dẫn với nhau gọi là dẫn thằng [引繩], cùng tiến cử nhau lên con đường vẻ vang gọi là dẫn trọng [引重] hay cấp dẫn [汲引], v.v. · Rút ra. Như dẫn đao [引刀] rút dao, dẫn kiếm [引劍] tuốt gươm, v.v. · Bỏ đi. Như dẫn thoái [引退], dẫn tị [引避] nghĩa là tháo thân lui đi. · Kéo dài. Như dẫn cảnh thụ hình [引頸受刑] vươn cổ chịu hình, dẫn nhi thân chi [引而伸之] kéo cho duỗi ra. · Dẫn dụ. · Tên thước đo. Mười trượng là một dẫn. · Phép bán muối lấy dẫn tính nhiều ít, mỗi dẫn là hai trăm cân, nên chỗ bán muối gọi là dẫn ngạn [引岸], số bán được bao nhiêu gọi là dẫn ngạch [引額]. Các hàng hóa khác cũng có khi dùng chữ ấy. Như trà dẫn [茶引] chè bán được bao nhiêu, tích dẫn [錫引] thiếc bán được bao nhiêu. · Một âm là dấn. Dây kéo xe đám ma. Nay cũng gọi sư đưa đám ma là phát dấn [發引]. · Khúc hát. Sái Ung nhà Hán có bài Tư quy dấn [思歸引]. · Tên thể văn cũng như bài tựa. Như trên đầu các cuốn thơ từ có một bài tựa ngắn gọi là tiểu dấn [小引].
- Tức10 nét— bộ 61.6— xī
Hơi thở. Mũi thở ra hít vào một lượt gọi là nhất tức [一息], thở dài mà than thở gọi là thái tức [太息]. · Nghỉ. Như hưu tức [休息] nghỉ ngơi, an tức [安息] yên nghỉ, v.v. · Con cái, con trai con gái còn bé gọi là nhược tức [弱息]. · Lãi. Tiền vốn gọi là mẫu [母], số lãi ở tiền vốn ra gọi là tức [息]. · Thôi. · Yên ủi.
- Trừ9 nét— bộ 170.7— chú
Thềm. Như đình trừ [庭除] thềm trước sân. · Trừ bỏ đi. Như tiễn trừ [剪除] cắt sạch đi, tảo trừ [掃除] quét sạch đi, v.v. · Phong quan. Như trừ thụ [除授] bỏ chức quan cũ mà phong chức quan mới. · Ngày hết năm gọi là trừ nhật [除日], ý nói là cái ngày trừ hết cái cũ mà thay cái mới vậy, trừ tịch [除夕] đêm giao thừa. · Phép tính chia, lấy một số nguyên chia ra từng phần gọi là trừ.
- Ồn12 nét— bộ 85.9— wēn
Giản thể của chữ 溫
- Hoạ12 nét— bộ 102.7— huà
Vạch, vẽ. Bức tranh vẽ cũng gọi là họa. · Một âm là hoạch. Vạch, vạch cho biết đến đâu là một khu một cõi gọi là hoạch. Như phân cương hoạch giới [分疆畫界] vạch chia bờ cõi. · Ngăn trở. Như hoạch địa tự hạn [畫地自限] vạch đất tự ngăn, ý nói học vấn không cầu tiến bộ hơn, được chút đỉnh đã cho là đầy đủ. · Mưu kế. Như mưu hoạch [謀畫], kế hoạch [計畫], v.v. · Nét, nét ngang của chữ gọi là hoạch.
- Thủ9 nét— bộ 185.0— shǒu
Đầu. Như khể thủ [稽首] lạy dập đầu. Dân gọi là kiềm thủ [黔首] nói những kẻ trai trẻ tóc đen có thể gánh vác mọi việc cho nhà nước vậy. · Chúa. Chức tổng thống hay vua cai trị cả nước gọi là nguyên thủ [元首]. · Kẻ trùm trưởng, kẻ lĩnh tụ một phái nào gọi là thủ lĩnh [首領]. · Người đứng bực nhất cũng goi là thủ. Như người có công thứ nhất gọi là thủ công [首功], giàu có nhất gọi là thủ phú [首富], v.v. · Trước nhất. Như chốn kinh sư gọi là thủ thiện chi khu [首善之區] một nơi phong khí mở mang trước nhất. · Thiên, bài, một bài thơ hay một bài văn gọi là nhất thủ [一首]. · Một âm là thú. Tự ra thú tội gọi là xuất thú [出首] hay tự thú [自首].
- Đồ14 nét— bộ 31.11— tú
Cái tranh vẽ. Như đồ họa [圖畫] tranh vẽ, địa đồ [地圖] tranh vẽ hình đất. · Toan mưu. Như hi đồ [希圖] toan mong, đồ mưu [圖謀] toan mưu, v.v.
- Hữu5 nét— bộ 30.2— yòu
Bên phải. · Giúp, cũng như chữ hữu [佑]. Như bảo hữu [保右] giúp giữ. · Bên trên. Đời xưa cho bên phải là trên. Như hữu văn hữu vũ [右文右武] trọng văn trọng võ. Vì thế nên họ sang gọi là hữu tộc [右族], nhà hào cường gọi là hào hữu [豪右], v.v. · Phương tây. Như Sơn hữu [山右] tức là Sơn tây. Giang hữu [江右] tức là Giang tây.
- Hiệu5 nét— bộ 30.2— háo
Cũng như chữ hiệu [號]. · Giản thể của chữ [號].
- Hiệu13 nét— bộ 141.7— háo
Kêu gào, gào khóc. Nguyễn Du [阮攸] : Phong vũ dạ dạ do hào hô [風雨夜夜猶號呼] (Cựu Hứa đô [舊許都]) Đêm đêm mưa gió còn kêu gào. · Một âm là hiệu. Tên hiệu, danh hiệu, niên hiệu. · Hiệu lệnh. · Dấu hiệu. · Ra hiệu lệnh. · Dị dạng của chữ [号].
- Tục21 nét— bộ 120.15— xù
Liền nối, đứt rồi lại nối liền gọi là tục. Như liên tục [連續], tiếp tục [接續]. Nay gọi lấy vợ kế là giao tục [膠續] hay tục huyền [續絃], nói ý như đàn đứt lại căng dây khác vậy. · Nối đời. Như tự tục [似續] con cháu. · Người nổi lên sau gọi là tục.
- Tầng15 nét— bộ 44.12— céng
Từng, lớp, hai lần. Như tằng lâu [層樓] gác hai từng. Nguyễn Du [阮攸] : Thanh sơn lâu các nhất tằng tằng [青山樓閣一層層] (Thương Ngô Trúc Chi ca [蒼梧竹枝歌]) Lầu gác trên núi xanh tầng này nối tầng khác. · Phàm cái gì hai lần chập chồng đều gọi là tằng. · Sự gì có trật tự gọi là tằng thứ [層次].
- Hô8 nét— bộ 30.5— hū
Thở ra. Đối lại với chữ hấp [吸]. · Gọi. Liêu trai chí dị [聊齋志異] : Nữ thủ san diệp hô tác bính, thực chi quả bính [女取山葉呼作餅, 食之果餅] (Phiên Phiên [翩翩]) Nàng lấy lá trên núi nói là bánh, (chàng) ăn quả thật là bánh. · Kêu to, gọi to. · Một âm là há. Thét mắng.
- Lưu10 nét— bộ 102.5— liú
Lưu lại, muốn đi mà tạm ở lại gọi là lưu. · Lưu giữ, giữ lại không cho đi. Như lưu liên [留連] quyến luyến. · Đáng đi mà không đi gọi là lưu. Như lưu nhậm [留任] lại ở làm việc quan. · Đình trệ. Như án vô lưu độc [案無留牘] văn thư nhanh nhẹn không đọng cái nào. · Còn lại. · Lâu. · Đợi dịp.
Câu hỏi thường gặp
- Hán Việt là gì?
- Hán Việt là cách đọc chữ Hán theo âm Việt - hệ thống phiên âm hình thành qua hơn nghìn năm tiếp xúc văn hoá Việt - Trung. Mỗi chữ Hán mang một âm Hán Việt riêng, vd 明 đọc là 'minh', 山 đọc là 'sơn'. Hán Việt được dùng trong văn chương cổ điển, đặt tên người, văn bia, lịch pháp Việt Nam cho tới ngày nay.
- Tại sao từ điển chỉ có 8,306 chữ?
- Đây là số chữ có thuộc tính kVietnamese trong Unicode Unihan database (UAX #38) - cơ sở dữ liệu chuẩn quốc tế cho ký tự Hán. Không phải toàn bộ ~80,000 chữ CJK đều có âm Hán Việt được Unicode chính thức ghi nhận. Một số chữ Hán Nôm cổ chưa được chuẩn hoá Unicode và sẽ được bổ sung theo từng đợt mở rộng tập ký tự.
- Khang Hy Tự Điển là gì?
- Khang Hy Tự Điển (康熙字典) là từ điển Hán văn được biên soạn dưới triều vua Khang Hy nhà Thanh, xuất bản năm 1716 với 47,035 chữ Hán. Đây là chuẩn được dùng để đếm số nét và phân loại bộ thủ (214 bộ) cho mọi chữ Hán. Số nét Khang Hy thường khác cách đếm hiện đại do bao gồm bộ thủ truyền thống.
- Nguồn dữ liệu từ điển này từ đâu?
- Phiên âm Hán Việt và số nét lấy từ Unicode Unihan database chính thức của Unicode Consortium, license cho phép sử dụng tự do với attribution. Unicode IRG (Ideographic Rapporteurs' Group) là nơi chuẩn hoá ký tự CJK, có sự tham gia của Vietnamese Nôm Preservation Foundation (VNPF). Với ~105 chữ thường dùng đặt tên, NGUHANH bổ sung thêm ngũ hành và gợi ý sử dụng dựa theo các sách đặt tên truyền thống.
- Một chữ Hán có thể có nhiều âm Hán Việt không?
- Có. Một chữ Hán có thể mang nhiều âm tuỳ ngữ cảnh - vd chữ 樂 vừa đọc 'lạc' (vui, an lạc) vừa đọc 'nhạc' (âm nhạc). Trong từ điển, mỗi chữ hiển thị âm chính và các âm thay thế ở phần Thông số - 'Phiên âm thay thế'. Việc chọn âm nào phụ thuộc nghĩa và truyền thống địa phương.
- Sao chữ này có meaning Việt, chữ kia chỉ có nghĩa tiếng Anh?
- NGUHANH ưu tiên biên soạn nghĩa Việt cho ~105 chữ thường dùng đặt tên người Việt, gắn thêm ngũ hành và gợi ý giới tính. Với 8,000+ chữ còn lại, hiện chỉ hiển thị nghĩa tiếng Anh từ Unihan kDefinition để tham khảo. Bảng đang được bổ sung dần - quý gia chủ phát hiện sai sót hoặc muốn đóng góp xin liên hệ.
Tra cứu liên quan
Phiên âm Hán Việt và số nét tham khảo Unicode Unihan database (UAX #38, kVietnamese + kTotalStrokes + kRSKangXi). Nghĩa Việt tham khảo Thiều Chửu Hán Việt Tự Điển 1942 (Public Domain). Nghĩa và ngũ hành đặt tên cho ~105 chữ phổ biến do NGUHANH biên soạn theo các sách đặt tên truyền thống. Bảng đang được bổ sung - có thể còn sót hoặc sai. Quý gia chủ phát hiện nhầm lẫn xin báo qua mục liên hệ để NGUHANH rà lại.