Từ điển Hán Việt
15.615 chữ Hán Việt từ Unicode Unihan database (UAX #38) - phiên âm, nét Khang Hy, bộ thủ, ngũ hành dùng đặt tên.
Tra cứu chữ Hán Việt theo Unicode chuẩn
Hán Việt (漢越) là cách đọc chữ Hán theo âm Việt - hệ thống phiên âm hình thành qua hơn nghìn năm tiếp xúc văn hoá Việt - Trung, được dùng trong văn chương cổ điển, văn bia, lịch pháp và đặt tên người Việt cho tới ngày nay. Mỗi chữ Hán mang một âm Hán Việt riêng - chữ 明 đọc là minh, chữ 山 đọc là sơn, chữ 學 đọc là học.
Từ điển này tổng hợp 15.615 chữ Hán có âm Hán Việt theo Unicode Unihan database (chuẩn UAX #38 của tổ chức Unicode Consortium, thuộc tính kVietnamese). Mỗi chữ kèm: số nét theo Khang Hy Tự Điển 康熙字典, bộ thủ trong 214 bộ Khang Hy, phiên âm Pinyin Hán Đại Tự Điển, định nghĩa tham khảo, và với ~105 chữ thường dùng đặt tên người Việt còn có thêm ngũ hành, gợi ý giới tính, vị trí phù hợp trong tên (đệm/tên chính).
Quý gia chủ có thể tra theo nhiều cách: gõ âm Hán Việt (vd minh), gõ chữ Hán trực tiếp (vd 明), gõ pinyin (vd míng), hoặc gõ từ nghĩa (vd sáng). Có thể lọc theo ngũ hành Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ, theo giới tính phù hợp khi đặt tên, hoặc theo vai trò (họ - đệm - tên chính). Click vào một chữ để xem chi tiết: nguồn dẫn cổ thư, các chữ liên quan cùng bộ thủ, và liên kết đến công cụ luận tên cho bé.
Danh sách chữ Hán Việt
- Thích20 nét— bộ 165.13— shì
Cổi ra, nới ra. · Giải thích ra. Giải rõ nghĩa sách gọi là thích hỗ [釋詁] hay thích huấn [釋訓]. · Buông. Như kiên trì bất thích [堅持不釋] giữ vững không buông, khai thích vô cô [開釋無辜] buông tha cho kẻ không tội, v.v. · Tiêu tan. Như tâm trung vi chi thích nhiên [心中爲之釋然] trong lòng đã được tiêu tan, không còn vướng vít ân hận gì nữa. · Thích Già [釋迦] danh hiệu vị sáng lập ra Phật giáo. Cho nên các sư gọi là Thích tử [釋子], Phật giáo gọi là Thích giáo [釋教], v.v. · Bỏ. · Nhuần thấm. · Ngâm gạo, vo gạo. · Một âm là dịch. Vui lòng.
- Em10 nét— bộ 9.8— yàn
(Đại danh từ) Ta đây, tôi. Tây sương kí [西廂記] : Yêm đáo na lí tẩu nhất tao tiện hồi lai dã [俺到那裡走一遭便回來也] (Đệ nhất bổn 第一本) Ta sang chơi bên ấy một lát.
- Huynh5 nét— bộ 10.3— xiōng
Anh. · Cùng chơi với nhau cũng gọi là huynh. Như nhân huynh [仁兄] anh bạn nhân đức (tiếng tôn xưng bạn).
- Tôn12 nét— bộ 41.9— zūn
Tôn trọng. Như tôn trưởng [尊長] người tôn trưởng, tôn khách [尊客] khách quý, v.v. · Kính. Như tôn xứ [尊處] chỗ ngài ở, tôn phủ [尊府] phủ ngài, lệnh tôn [令尊] cụ ông nhà ngài, v.v. · Cái chén, nay thông dụng chữ tôn [樽]. · Một pho tượng thần hay Phật cũng gọi là nhất tôn [一尊]. · Quan địa phương mình cũng gọi là tôn. Như phủ tôn [府尊] quan phủ tôi.
- Bức12 nét— bộ 50.9— fú
Bức, một tiếng dùng để đo vải lụa. Như kỉ phúc [幾幅] mấy bức ? · Sửa sang. Như tu sức biên phúc [修飭邊幅] sửa sang diêm dúa như tấm lụa phải chải chuốt hai bên mép. · Một âm là bức. Lấy lụa quần chéo từ chân đến gối như sa-cạp vậy. $ Ta quen đọc là chữ bức cả.
- Dùng8 nét— bộ 64.5— yōng
Giản thể của chữ 擁
- Thụ11 nét— bộ 64.8— shòu
Cho, trao cho. · Truyền thụ. Như thụ khóa [授課] dạy học. · Trao ngôi quan.
- Bôi8 nét— bộ 75.4— bēi
Cái chén.
- Mưu16 nét— bộ 149.9— móu
Toan tính, toan tính trước rồi mới làm gọi là mưu. Như tham mưu [參謀] cùng dự vào việc mưu toan ấy, mưu sinh [謀生] toan mưu sự sinh nhai, nay gọi sự gặp mặt nhau là mưu diện [謀面] nghĩa là mưu toan cho được gặp mặt nhau một lần vậy. · Mưu kế. · Mưu cầu.
- Khuyến19 nét— bộ 19.18— quàn
Khuyên, lấy lời mềm mại khuyên rủ người ta theo mình gọi là khuyến. Như khuyến tửu [勸酒] mời uống rượu. Vương Duy [王維] : Khuyến quân canh tận nhất bôi tửu, Tây xuất Dương quan vô cố nhân [勸君更盡一杯酒, 西出陽關無故人] (Vị Thành khúc [渭城曲]) Xin mời bạn hãy uống cạn chén rượu này, (Vì đi ra) Dương quan phía tây, bạn sẽ không có ai là cố nhân nữa. · Khuyên gắng. Như khuyến miễn [勸勉] lấy lời hay khuyên cho người cố gắng lên.
- Bác12 nét— bộ 24.10— bó
Rộng. · Thông suốt. Như uyên bác [淵博] nghe thấy nhiều lắm. · Đánh bạc. · Lấy. Như dĩ bác nhất tiếu [以博一笑]] để lấy một tiếng cười.
- Nghi15 nét— bộ 9.13— yí
Dáng. Như uy nghi [威儀] có cái dáng nghiêm trang đáng sợ. · Làm mẫu, làm phép. Như nghi khí [儀器] đồ để cho người bắt chước. · Đồ lễ. Như hạ nghi [下儀] đồ lễ mừng.
- Bổng11 nét— bộ 64.8— pěng
Bưng. Lý Hoa [李華] : Đề huề phủng phụ [提攜捧負] (Điếu cổ chiến trường văn [弔古戰場文]) Dắt díu nâng đỡ.
- Võng14 nét— bộ 120.8— wǎng
Cái lưới, cái chài. Tô Thức [蘇軾] : Cử võng đắc ngư, cự khẩu tế lân [舉網得魚, 巨口細鱗] (Hậu Xích Bích phú [後赤壁賦]) Cất lưới được cá, miệng to vẩy nhỏ. · Phàm cái gì kết thành từng mắt đều gọi là võng. Như thù võng [蛛網] mạng nhện. · Cái để ràng buộc người và vật. Như trần võng [塵網] lưới trần, ý nói sự đời nó ràng buộc người như thể phải bị mắc vào lưới vậy, vì thế nên gọi pháp luật là văn võng [文網]. · Dị dạng của chữ [网].
- Xúc20 nét— bộ 148.13— chù
Húc, đâm. · Tiếp xúc, chạm biết. Phàm sự vật gì chạm sát nhau đều gọi là xúc. Như tiếp xúc ư nhĩ mục [接觸於耳目] tai nghe thấy, mắt trông thấy. · Lại sự vật gì nhiều lắm đều gọi là xúc. Như xúc xứ giai thị [觸處皆是] đâu đâu cũng thế. · Cảm xúc, nhân cớ đó mà động đến tâm mình đều gọi là xúc. Như xúc phát [觸發] cảm xúc phát ra. · Can phạm. Như xúc húy [觸諱] xúc phạm chỗ kiêng, để xúc [抵觸] nói với làm trái nhau.
- Phỉ10 nét— bộ 22.8— fěi
Chẳng phải. · Tập làm sự bất chính. Như thổ phỉ [土匪] giặc cỏ, phỉ loại [匪類] đồ bậy bạ, v.v.
- Giáp7 nét— bộ 37.4— jiā
Cũng như chữ giáp [夹]. Nguyễn Trãi [阮薦] : Giáp ngạn thiên phong bài ngọc duẩn [夾岸千峰排玉筍] (Quá Thần Phù hải khẩu [過神苻海口]) Sát bờ, ngàn ngọn núi bày ra như búp măng mọc. · Dị dạng của chữ [夹].
- Yết12 nét— bộ 64.9— jiē
Giơ cao, dựng lên. Như yết can khởi sự [揭竿起事] dựng cờ nổi lên. · Bảo cho rõ. Như yết thị [揭示]. · Tỏ lộ, phơi ra. · Gánh, vác. · Tiêu chuẩn (làm mẫu mực).
- Hủ14 nét— bộ 130.8— fǔ
Thối nát. · Cũ rích, không thông đạt. Như hủ nho [腐儒] người học trò hủ lậu. · Hủ hình [腐刑] hình thiến dái. Tư Mã Thiên [司馬遷] đã chịu khổ hình này. · Đậu hủ [豆腐] đậu phụ.
- Bế11 nét— bộ 169.3— bì
Đóng cửa. Trái lại với chữ khai [開] mở thông. Như không được khai thông gọi là bế tắc [閉塞], không mở mang ra gọi là bế tàng [閉藏], không đi lại gì với ai gọi là bế quan tự thủ [閉關自守]. Nguyễn Trãi [阮廌] : Nhàn trung tận nhật bế thư trai [閑中盡日閉書齋] (Mộ xuân tức sự [暮春即事]) Trong lúc nhàn rỗi suốt ngày đóng cửa phòng văn. · Cửa ngạch, các cửa nhỏ bên then cửa lớn. · Che đậy. · Lấp. · Ngày lập thu, lập đông gọi là bế. · Họ Bế.
- Nống16 nét— bộ 85.13— nóng
Nồng, đặc. Trái lại với chữ đạm [淡].
- Bào9 nét— bộ 130.5— bāo
Bào thai [胞胎], lúc con còn ở trong bụng mẹ, ngoài có cái mạng bao bọc gọi là bào (nhau). · Phàm vật gì hình tròn ngoài có mạng bọc đều gọi là bào. Như tế bào [細胞] một chất nhỏ kết cấu thành các sinh vật. · Bọc, anh em cùng một cha mẹ gọi là đồng bào [同胞] anh em ruột. Nói rộng ra, anh bố gọi là bào bá [胞伯] bác ruột, em bố gọi là bào thúc [胞叔] chú ruột. Người trong một nước cũng gọi là đồng bào, nghĩa là cùng là con cháu một ông tổ sinh ra vậy. · Cùng nghĩa với chữ bào [庖].
- Hình6 nét— bộ 18.4— xíng
Hình phạt. Luật ngày xưa định xử tử lưu đồ trượng si [死流徒杖笞] là năm hình. Luật bây giờ chia ra hai thứ : về việc tiền của công nợ là dân sự phạm [民事犯], về việc trộm cướp đánh giết gọi là hình sự phạm [刑事犯]. · Phép thường. Nay thông dụng dùng chữ hình [型].
- Tiếc11 nét— bộ 61.8— xī
Đau tiếc. Nhân thấy người hay vật gì mất đi mà không cam tâm gọi là tích. Như thâm kham thống tích [深堪痛惜] rất đáng tiếc nhớ lắm. · Yêu tiếc. Nhân vì đáng yêu mà quí trọng gọi là tích. Như thốn âm khả tích [寸陰可惜] một tấc bóng quang âm cũng đáng tiếc. · Tham, keo.
- Giám14 nét— bộ 108.9— jiàn
Soi xét, coi sóc. Như giam đốc [監督] người coi sóc công việc của kẻ dưới. · Nhà tù. Như giam cấm [監禁], giam lao [監牢] đều là chỗ giam kẻ có tội cả. · Một âm là giám.Tên sở công. Như nhà quốc tử giám [國子監], khâm thiên giám [欽天監], v.v. · Học trò được vào học ở quốc tử giám gọi là giám sinh [監生]. · Quan hoạn gọi là thái giám [太監].
- Tạng21 nét— bộ 130.18— zàng
Tạng, một danh từ để gọi tóm các khí quan ở trong bụng. Tim, gan, lá lách, phổi, bầu dục : tâm, can, tì, phế, thận [心、肝、脾、肺、腎], gọi là ngũ tạng [五臟]. Xem lục phủ [六腑].
- Chưng13 nét— bộ 86.10— zhēng
Lũ, bọn. Như chưng dân [蒸民]. · Hơi nóng bốc lên. Như uất chưng [鬱蒸] nung nấu, viêm chưng [炎蒸] nóng ngùn ngụt, v.v. · Hướng lên, đùn đùn. Như chưng chưng nhật thượng [蒸蒸日上] đùn đùn ngày tiến lên, ý nói là chăm chỉ tu tiến lên hơn vậy. · Cây gai róc vỏ. · Đuốc. · Củi nhỏ. · Tế về mùa đông, gọi là tế chưng.
- Bần11 nét— bộ 154.4— pín
Nghèo. Như bần sĩ [貧士] học trò nghèo. · Thiếu. Như bần huyết bệnh [貧血病] bệnh thiếu máu. · Lời nói nhún mình. Như bần tăng [貧僧] kẻ tu hành hèn dốt này.
- Ba8 nét— bộ 85.5— bō
Sóng nhỏ. Sóng nhỏ gọi là ba [波], sóng lớn gọi là lan [瀾]. Văn bài gì có từng thứ nẩy ra gọi là ba lan [波瀾]. · Một cái nổi lên một cái im đi cũng gọi là ba. Như âm nhạc phát ra tiếng, thì những tiếng còn dư lại gọi là âm ba [音波]. Viết văn, viết chữ thì chỗ tàng nên gò gập lại gọi là ba trích [波磔]. · Dần đến. Như ba cập [波及] trước ở bên ấy, rồi đến bên kia, ba lụy [波累] nhân người khác mà lụy đến mình. · Bôn ba [奔波] sóng nước chảy xiết, ý nói bôn tẩu vất vả. · Tia sáng của con mắt. Như nhãn ba [眼波] sóng mắt, chỉ ánh mắt long lanh, thu ba [秋波] làn sóng mùa thu, chỉ ánh mắt long lanh của người đẹp như sóng nước mùa thu.
- Lễ5 nét— bộ 113.1— lǐ
Cũng như chữ lễ [禮]. · Giản thể của chữ [禮].
- Lễ17 nét— bộ 113.13— lǐ
Lễ, theo cái khuôn mẫu của người đã qua định ra các phép tắc, từ quan, hôn, tang, tế cho đến đi đứng nói năng đều có cái phép nhất định phải như thế gọi là lễ [禮]. · Kinh Lễ. · Đồ lễ, nhân người ta có việc mà mình đưa vật gì tặng gọi là lễ. · Dị dạng của chữ [礼].
- Tư7 nét— bộ 115.2— sī
Riêng, cái gì không phải là của công đều gọi là tư. Như tư tài [私財] của riêng, tư sản [私產] cơ nghiệp riêng, v.v. · Sự bí ẩn, việc bí ẩn riêng của mình không muốn cho người biết gọi là tư. Vì thế việc thông gian thông dâm cũng gọi là tư thông [私通]. · Riêng một. Như tư ân [私恩] ơn riêng, tư dục [私慾] (cũng viết là [私欲]) lòng muốn riêng một mình. · Cong queo. · Anh em rể, con gái gọi chồng chị hay chồng em là tư. · Bầy tôi riêng trong nhà (gia thần). · Các cái thuộc về riêng một nhà. · Đi tiểu. · Áo mặc thường. · Lúc ở một mình.
- Nhiễu18 nét— bộ 120.12— rào
Vòng quanh, quấn. Như vi nhiễu [圍繞] vây quanh.
- Vi12 nét— bộ 162.9— wéi
Lìa. Như cửu vi [久違] li biệt đã lâu. Khuất Nguyên [屈原]:Tuy tín mĩ nhi vô lễ hề, lai vi khí nhi cải cầu [雖信美而無禮兮, 來違棄而改求] (Li Tao [離騷]) Tuy đẹp thật nhưng vô lễ hề, phải lìa bỏ mà cầu chỗ khác. · Trái. Như vi mệnh [違命] trái mệnh, vi pháp [違法] trái phép. · Người hay du di không quả quyết gọi là y vi [依違]. · Lánh. · Lầm lỗi.
- Trượng3 nét— bộ 1.2— zhàng
Trượng, mười thước ta là một trượng. · Đo. Như thanh trượng [清丈] nghĩa là đo xong số ruộng đất nào rồi. · Già cả. Như lão trượng [老丈] trượng nhân [丈人] (người già cả). Bố vợ gọi là nhạc trượng [岳丈].
- Mương9 nét— bộ 140.6— máng
Thương mang [滄茫] mênh mông. · Mang mang [茫茫] man mác, mênh mông. Nguyễn Du [阮攸] : Giang thủy mang mang giang ngạn bình [江水茫茫江岸平] (Vãn há Đại Than [晚下大灘]) Nước sông mênh mông, bờ sông ngập bằng. · Ngây ngô, mờ mịt. Tả cái dáng không biết gì. Như mang nhiên [茫然] mờ mịt vậy. Nguyễn Du [阮攸] : Mang nhiên bất biện hoàn hương lộ [茫然不辨還鄉路] (Nhiếp Khẩu đạo trung [灄口道中]) Mờ mịt không còn nhận ra đường trở lại quê nhà.
- Thổ6 nét— bộ 30.3— tǔ
Thổ ra. Vì bệnh gì mà các đồ ăn uống ở trong dạ dầy thốc ra gọi là thổ. Nhà làm thuốc có phép thổ, nghĩa là cho uống thuốc thổ hết tà độc ra cho khỏi bệnh. · Nói năng. Như thổ từ phong nhã [吐詞風雅] nói nhời ra phong nhã. · Nở ra. Như hoa nở gọi là thổ tú [吐秀]. · Thổ lộ. Như thổ lộ chân tình [吐露真情] bầy tỏ hết tình thực. · Nhả ra, nhà tu tiên nhả cái cũ ra, nuốt cái mới vào gọi là thổ nạp [吐納]. · Vứt bỏ. Như thổ khí [吐棄] nhổ vứt đi.
- Phún15 nét— bộ 30.12— pēn
Xì ra, dùng mũi phì hơi ra. · Phun nước. Cũng đọc là phôn. Nguyễn Trãi [阮廌] : Thiên phong xuy khởi lãng hoa phôn [天風吹起浪花噴] (Chu trung ngẫu thành [舟中偶成]) Gió trời nổi lên, hoa sóng phun tung tóe.
- Phế15 nét— bộ 53.12— fèi
Bỏ đi. · Phế tật [廢疾] kẻ bị tàn tật không làm gì được nữa. · Vật gì không dùng được nữa đều gọi là phế vật [廢物].
- Lanh8 nét— bộ 61.5— líng
Giản thể của chữ [憐].
- Tạt11 nét— bộ 61.7— xī
Biết hết. Như tường tất [詳悉] tường hết. · Đều, hết. Như tất dẫn binh độ hà [悉引兵渡河] đều dẫn binh sang sông, giai tất cụ túc [皆悉具足] thảy đều đầy đủ.
- Xao14 nét— bộ 66.10— qiāo
Đập, gõ. Như xao môn [敲門] gõ cửa. Giả Đảo [賈島] có câu thơ rằng : Tăng xao nguyệt hạ môn [僧敲月下門]. Trước Giả Đảo định dùng chữ thôi [推], đến khi hỏi ông Hàn Dũ [韓愈] bảo nên dùng chữ xao [敲] thì hơn. Nay ta nói làm việc gì phải châm chước, sự lý cho kỹ là thôi xao [推敲] là vì cớ ấy.
- Đạm11 nét— bộ 85.8— dàn
Nhạt, sắc hương vị gì nhạt nhẽo đều gọi là đạm. Không ham vinh hoa lợi lộc gọi là đạm bạc [淡泊]. · Đạm khí, chất đạm, một nguyên chất không sắc không mùi, lửa vào tắt ngay gọi là đạm khí. Giống động vật vào trong chỗ thuần chất đạm khí thì tắc hơi ngay, nên cũng gọi là trất tố [窒素].
- Hắt4 nét— bộ 61.1— yì
Giản thể của chữ 憶
- Ức16 nét— bộ 61.13— yì
Nhớ. Như tương ức [相憶] cùng nhớ nhau. Ghi nhớ, nhớ chôn vào tim óc gọi là kí ức [記憶].
- Tai7 nét— bộ 86.3— zāi
Cháy nhà. · Tai vạ, những sự trời đất biến lạ, những sự không may đều gọi là tai cả. · Dị dạng của chữ [灾].
- Tai7 nét— bộ 86.3— zāi
Cũng như chữ tai [災]. · Giản thể của chữ 災
- Mật14 nét— bộ 142.8— mì
Mật ong. · Lấy đường ngâm đồ ăn cũng gọi là mật. Như quả ngâm nước đường gọi là mật tiễn [蜜餞]. · Ngọt. Lấy lời ngon ngọt nói khéo mà an ủi người, mà rủ rê người gọi là điềm ngôn mật ngữ [甜言蜜語].
- Khủng10 nét— bộ 61.6— kǒng
Sợ. Như khủng khiếp [恐怯] rất sợ hãi. · Dọa nạt, làm cho người ta sợ hãi. Như khủng bố [恐怖] dùng những hành động tàn bạo làm cho người khác sợ hãi. · Một âm là khúng. E ngại, lo đến việc ngoài ý tưởng đều gọi là khúng.
- Thuật8 nét— bộ 162.5— shù
Bày ra, thuật ra. Chép các điều đã nghe từ trước ra gọi là thuật. · Noi theo. Trung Dung [中庸] : Phụ tác chi, tử thuật chi [父作之子述之] Cha làm ra, con noi theo. Lễ ký [禮記] : Trọng Ni tổ thuật Nghiêu Thuấn [仲尼祖述堯舜] Trọng Ni noi theo Nghiêu, Thuấn. · Phàm làm cho trọn công việc của người đã gây ra hay biên chép được những lời của người đã nói ra đều gọi là thuật. Luận Ngữ [論語] : Thuật nhi bất tác [述而不作] (Thuật nhi [述而]) Ta truyền thuật (đạo cổ nhân) mà không sáng tác. · Bày tỏ. Bày tỏ trước sau mánh thớ của một việc gì gọi là thuật. Như truyền thuật [傳述] dùng văn tự chép rõ đẻ truyền cho người xem, khẩu thuật [口述] kể miệng, v.v.
- Ẩn16 nét— bộ 170.14— yǐn
Ẩn nấp, không hiện rõ ra. Như cơ vạ loạn còn ẩn nấp chưa phát ra gọi là ẩn hoạn [隱患], mối tình không thể bộc bạch cho ai nấy đều biết được gọi là ẩn tình [隱情], v.v. · Ẩn trốn. Học trò không cần ra làm quan mà lánh đời ở ẩn một chỗ gọi là ẩn luân [隱淪] hay ẩn dật [隱逸]. · Ẩn nấp, dùng cái đồ gì che kín mình khiến cho người không trông thấy được gọi là ẩn. Như ẩn ư bình hậu [隱於屏後] nấp ở sau bình phong. · Giấu. Sự gì biết rõ mà giấu kín không nói cho ai biết gọi là ẩn. Như tử vị phụ ẩn [子爲父隱] con giấu cho cha. · Giấu giếm, biết mà không nói, nói không hết ý gọi là ẩn. Như sách Luận ngữ [論語] nói nhị tam tử dĩ ngã vi ẩn hồ, ngô vô ẩn hồ nhĩ [二三子以我爲隱乎, 吾無隱乎爾] (Thuật nhi [述而]) hai ba anh cho ta là giấu giếm gì chăng, ta không có giấu giếm gì cả. · Khốn khổ. Những điều dân lấy làm lo làm khổ gọi là dân ẩn [民隱]. · Xót, nghĩ. Như Mạnh tử [孟子] nói vương nhược ẩn kì vô tội nhi tựu tử địa [王若隱其無罪而就死地] nhà vua nếu xót nghĩ đến kẻ không có tội mà tới chỗ chết. · Sự gì chưa rõ ràng mà đã hơi có ý lộ ra gọi là ẩn. Như ẩn ẩn [隱隱] lờ mờ, ẩn nhiên [隱然] hơi ro rõ vậy, ẩn ước [隱約] lấp ló, v.v. · Lời nói đố. · Tường thấp. · Một âm là ấn. Tựa. Như ấn kỷ nhi ngoạ [隱几而臥] tựa ghế mà nằm, ẩn nang [隱囊] tựa gối. Nguyễn Trãi [阮廌] : Ấn kỷ phần hương lý ngọc cầm [隱几焚香理玉琴] (Tức hứng [即興]) Dựa ghế, đốt hương, gảy đàn ngọc. Tục viết là [隠]. · Dị dạng của chữ [隐].
- Tàn12 nét— bộ 78.8— cán
Tàn ác, tàn hại. · Tàn, cái gì dùng rồi còn thừa lại gọi là tàn. Như tàn bôi [殘杯] chén rượu thừa (tiệc đã tàn), tàn dạ [殘夜] đêm tàn, nghĩa là chỉ còn một chút nữa thì sáng. · Thiếu. Người không đủ các chi thể gọi là tàn tật [殘疾]. · Giết.
- Ngạch18 nét— bộ 181.9— é
Bộ trán, trên chỗ lông mày dưới mái tóc gọi là ngạch. Như ngạch nghiễm [額廣] trán rộng. · Cái số chế ra nhất định. Như số binh đã chế nhất định gọi là binh ngạch [兵額]. Số lương đã chế nhất định gọi là ngạch hướng [額餉]. · Cái hoành phi. Cái hoành phi treo ở trên cửa trên mái, như cái trán của người nên gọi là biển ngạch [匾額].
- Toàn11 nét— bộ 70.7— xuán
Trở lại. Như khải toàn [凱旋] thắng trận trở về. · Quay lại, xoáy. Như toàn phong [旋風] gió lốc, toàn oa [旋渦] nước xoáy. · Vụt chốc. Như toàn phát toàn dũ [旋發旋愈] vụt phát vụt khỏi, họa bất toàn chủng [禍不旋踵] vạ chẳng kịp trở gót. · Đi đái, đi tiểu. Hàn Dũ [韓愈] : Cập thành hãm, tặc phược Tuần đẳng sổ thập nhân tọa, thả tương lục, Tuần khởi toàn [及城陷, 賊縛巡等數十人坐, 且將戮, 巡起旋] (Trương Trung Thừa truyện hậu tự [張中丞傳後敘]) Tới khi thành bị phá, quân giặc bắt trói hàng chục người của Tuần ngồi xuống, sắp sửa giết, Tuần đứng lên đái (tỏ ra không sợ hãi).
- Ô6 nét— bộ 85.3— wū
* · Như chữ ô [汙].
- Giáp5 nét— bộ 102.0— jiǎ
Can Giáp, một can đầu trong mười can. Ngày xưa lấy mười can kể lần lượt, cho nên cái gì hơn hết cả đều gọi là giáp. Như phú giáp nhất hương [富甲一鄉] giầu nhất một làng. · Dùng làm chữ nói thay ngôi (đại từ). Như anh Giáp, anh Ất, phần Giáp, phần Ất. Phàm không biết rõ là ai thì mượn chữ ấy làm cái tên mà gọi thay cho có chỗ mà so sánh. · Đời khoa cử, thi tiến sĩ lấy nhất giáp [一甲], nhị giáp [二甲], tam giáp [三甲] để chia hơn kém. Cho nên bảng tiến sĩ gọi là giáp bảng [甲榜]. Nhất giáp chỉ có ba bực : (1) Trạng nguyên [狀元], (2) Bảng nhãn [榜眼], (3) Thám hoa [探花] gọi là đỉnh giáp [鼎甲]. · Áo giáp (áo dày). · Mai. Như quy giáp [龜甲] mai rùa. · Bảo giáp [保甲] kê tra các nhà các nhân xuất để cho cùng dò xét nhau mà phòng bị các quân gian phi ẩn núp. Mười nhà gọi là một giáp.
- Đảm9 nét— bộ 130.5— tán
Tục dùng như chữ đảm [膽]. · Giản thể của chữ [膽].
- Đảm17 nét— bộ 130.13— dǎn
Mật, ở nép trong lá gan thường rỉ nước đắng ra để tiêu chất mỡ. · Ngày xưa bảo người ta có gan góc là vì cái mật, cho nên người không e sợ gì gọi là đại đảm [大膽], người có lòng sốt sắng vì nghĩa quên mình gọi là can đảm [肝膽]. · Nỗi lòng. Như phi can lịch đảm [披肝瀝膽] phơi gan rạch mật, ý nói tỏ hết nỗi lòng cho người biết. · Lòng trong của cái đồ gì. Như cái cựa gà ở trong đàn, sáo, cái nòng lót ở trong ấm pha chè, tục đều gọi là đảm cả. · Lau sạch đi, chùi đi. · Dị dạng của chữ [胆].
- Trì15 nét— bộ 162.12— chí
Chậm chạp. Trần Nhân Tông [陳仁宗] : Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì [楊柳花深鳥語遲] (Xuân cảnh [春景]) Hoa dương liễu rậm rạp, chim hót chậm rãi. · Đi thong thả, lâu, chậm. · Trì trọng. · Một âm là trí. Đợi. Như trí quân vị chí [遲君未至] đợi anh chưa đến, trí minh [遲明] đợi một tí nữa thì sáng.
- Thặng10 nét— bộ 4.9— chéng
Cưỡi, đóng. Như đóng xe vào ngựa gọi là thừa mã [乘馬]. · Nói rộng ra thì phàm cái gì nó ở dưới nó chở mình, đều gọi là thừa. Như thừa chu [乘舟] đi thuyền, thừa phù [乘稃] đi bè, v.v. · Nhân vì. Như thừa hứng nhi lai [乘興而來] nhân hứng mà lại. · Tính nhân. Như 3 nhân 3 là 9, gọi là thừa. · Bực. Phật học chia bực cao bực thấp. Như tiểu thừa [小乘] bực tu chỉ tự độ được mình, cũng như cỗ xe nhỏ chỉ chở được mình, đại thừa [大乘] bực tu đã tự độ mình lại độ cho người. Như cỗ xe lớn chở được nhiều người, v.v. Nhà Đường [唐] bàn thơ, người nào ý tứ cao kỳ, gọi là thượng thừa [上乘] cũng bắt chước nghĩa ấy. · Một âm là thặng. Cỗ xe, xe bốn ngựa kéo gọi là một thặng. Đời xưa đánh nhau bằng xe, tính thuế ruộng ra lính, cho nên tính số thuế ruộng cũng gọi là thặng. Như thiên thặng chi quốc [千乘之國] nước có số nghìn cỗ xe, bách thặng chi gia [百乘之家] nhà có trăm cỗ xe. · Bốn. Như sách Mạnh Tử [孟子] nói phát thặng thỉ nhi hậu phản [發乘失而後反] bắn bốn tên rồi sau trở lại. · Sách vở, những sách ghi chép mọi việc gọi là thặng. Như Tấn chi thặng [晉之乘] sách chép việc nước Tấn, gia phả cũng gọi là gia thặng [家乘], v.v.
Câu hỏi thường gặp
- Hán Việt là gì?
- Hán Việt là cách đọc chữ Hán theo âm Việt - hệ thống phiên âm hình thành qua hơn nghìn năm tiếp xúc văn hoá Việt - Trung. Mỗi chữ Hán mang một âm Hán Việt riêng, vd 明 đọc là 'minh', 山 đọc là 'sơn'. Hán Việt được dùng trong văn chương cổ điển, đặt tên người, văn bia, lịch pháp Việt Nam cho tới ngày nay.
- Tại sao từ điển chỉ có 8,306 chữ?
- Đây là số chữ có thuộc tính kVietnamese trong Unicode Unihan database (UAX #38) - cơ sở dữ liệu chuẩn quốc tế cho ký tự Hán. Không phải toàn bộ ~80,000 chữ CJK đều có âm Hán Việt được Unicode chính thức ghi nhận. Một số chữ Hán Nôm cổ chưa được chuẩn hoá Unicode và sẽ được bổ sung theo từng đợt mở rộng tập ký tự.
- Khang Hy Tự Điển là gì?
- Khang Hy Tự Điển (康熙字典) là từ điển Hán văn được biên soạn dưới triều vua Khang Hy nhà Thanh, xuất bản năm 1716 với 47,035 chữ Hán. Đây là chuẩn được dùng để đếm số nét và phân loại bộ thủ (214 bộ) cho mọi chữ Hán. Số nét Khang Hy thường khác cách đếm hiện đại do bao gồm bộ thủ truyền thống.
- Nguồn dữ liệu từ điển này từ đâu?
- Phiên âm Hán Việt và số nét lấy từ Unicode Unihan database chính thức của Unicode Consortium, license cho phép sử dụng tự do với attribution. Unicode IRG (Ideographic Rapporteurs' Group) là nơi chuẩn hoá ký tự CJK, có sự tham gia của Vietnamese Nôm Preservation Foundation (VNPF). Với ~105 chữ thường dùng đặt tên, NGUHANH bổ sung thêm ngũ hành và gợi ý sử dụng dựa theo các sách đặt tên truyền thống.
- Một chữ Hán có thể có nhiều âm Hán Việt không?
- Có. Một chữ Hán có thể mang nhiều âm tuỳ ngữ cảnh - vd chữ 樂 vừa đọc 'lạc' (vui, an lạc) vừa đọc 'nhạc' (âm nhạc). Trong từ điển, mỗi chữ hiển thị âm chính và các âm thay thế ở phần Thông số - 'Phiên âm thay thế'. Việc chọn âm nào phụ thuộc nghĩa và truyền thống địa phương.
- Sao chữ này có meaning Việt, chữ kia chỉ có nghĩa tiếng Anh?
- NGUHANH ưu tiên biên soạn nghĩa Việt cho ~105 chữ thường dùng đặt tên người Việt, gắn thêm ngũ hành và gợi ý giới tính. Với 8,000+ chữ còn lại, hiện chỉ hiển thị nghĩa tiếng Anh từ Unihan kDefinition để tham khảo. Bảng đang được bổ sung dần - quý gia chủ phát hiện sai sót hoặc muốn đóng góp xin liên hệ.
Tra cứu liên quan
Phiên âm Hán Việt và số nét tham khảo Unicode Unihan database (UAX #38, kVietnamese + kTotalStrokes + kRSKangXi). Nghĩa Việt tham khảo Thiều Chửu Hán Việt Tự Điển 1942 (Public Domain). Nghĩa và ngũ hành đặt tên cho ~105 chữ phổ biến do NGUHANH biên soạn theo các sách đặt tên truyền thống. Bảng đang được bổ sung - có thể còn sót hoặc sai. Quý gia chủ phát hiện nhầm lẫn xin báo qua mục liên hệ để NGUHANH rà lại.