Từ điển Hán Việt
15.615 chữ Hán Việt từ Unicode Unihan database (UAX #38) - phiên âm, nét Khang Hy, bộ thủ, ngũ hành dùng đặt tên.
Tra cứu chữ Hán Việt theo Unicode chuẩn
Hán Việt (漢越) là cách đọc chữ Hán theo âm Việt - hệ thống phiên âm hình thành qua hơn nghìn năm tiếp xúc văn hoá Việt - Trung, được dùng trong văn chương cổ điển, văn bia, lịch pháp và đặt tên người Việt cho tới ngày nay. Mỗi chữ Hán mang một âm Hán Việt riêng - chữ 明 đọc là minh, chữ 山 đọc là sơn, chữ 學 đọc là học.
Từ điển này tổng hợp 15.615 chữ Hán có âm Hán Việt theo Unicode Unihan database (chuẩn UAX #38 của tổ chức Unicode Consortium, thuộc tính kVietnamese). Mỗi chữ kèm: số nét theo Khang Hy Tự Điển 康熙字典, bộ thủ trong 214 bộ Khang Hy, phiên âm Pinyin Hán Đại Tự Điển, định nghĩa tham khảo, và với ~105 chữ thường dùng đặt tên người Việt còn có thêm ngũ hành, gợi ý giới tính, vị trí phù hợp trong tên (đệm/tên chính).
Quý gia chủ có thể tra theo nhiều cách: gõ âm Hán Việt (vd minh), gõ chữ Hán trực tiếp (vd 明), gõ pinyin (vd míng), hoặc gõ từ nghĩa (vd sáng). Có thể lọc theo ngũ hành Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ, theo giới tính phù hợp khi đặt tên, hoặc theo vai trò (họ - đệm - tên chính). Click vào một chữ để xem chi tiết: nguồn dẫn cổ thư, các chữ liên quan cùng bộ thủ, và liên kết đến công cụ luận tên cho bé.
Danh sách chữ Hán Việt
- Cự7 nét— bộ 64.5— jù
Chống cự. Đỗ Mục [杜牧] : Sử lục quốc các ái kì nhân, tắc túc dĩ cự Tần [使六國各愛其人, 則足以拒秦] (A phòng cung phú [阿房宮賦]) Sáu nước nếu biết yêu thương dân mình, thì đủ sức chống lại nhà Tần. · Một âm là củ. Trận hình vuông, giàn quân ra từng phương. Có khi dùng như chữ củ [矩].
- Hạn7 nét— bộ 72.3— hàn
Đại hạn, nắng mãi không mưa gọi là hạn. Nguyễn Du [阮攸] : Ngô văn nội cố tần niên khổ hoang hạn [吾聞內顧頻年苦荒旱] (Trở binh hành [阻兵行]) Ta nghe dân trong vùng nhiều năm khổ đại hạn. · Cạn. Như hạn lộ [旱路] đường cạn, đường bộ.
- Đào10 nét— bộ 75.6— táo
Cây đào. Như đào hạch [桃核] hạt đào. · Sắc đào rất đẹp, cho nên người đẹp gọi là đào tai [桃腮] má đào. Tương truyền rằng bà Tây Vương Mẫu [西王母] cho Hán Võ Đế [漢武帝] quả đào và bảo rằng thứ đào này ba nghìn năm mới chín một lần, ăn được trường sinh bất tử, cho nên chúc thọ hay dùng chữ bàn đào [蟠桃]. Cổ nhân bảo cành đào trừ được các sự không lành, cho nên đến tết nhà nào nhà nấy đều cắm cành đào ở cửa gọi là đào phù [桃符], các câu đối tết cũng thường dùng hai chữ ấy. Ông Địch Nhân Kiệt [狄仁傑] hay tiến cử người hiền, nên đời khen là đào lí tại công môn [桃李在公門] nghĩa là người hiền đều ở cửa ông ấy cả. Nay gọi các kẻ môn hạ là môn tường đào lí [門牆桃李] là do nghĩa ấy. · Đào yêu [桃夭], một thơ trong Thi Kinh [詩經] nói việc hôn nhân chính đáng, nay ta gọi con gái đi lấy chồng là đào yêu [桃夭] là vì đó. · Ông Đào Tiềm [陶潛] có bài ký gọi là Đào hoa nguyên kí [桃花源記] nói về sự người Tần chán đời, vì thế ngày nay mới gọi người ở ẩn là thế ngoại đào nguyên [世外桃源]. · Cổ nhân có câu đào hoa khinh bạc [桃花輕薄] vì thế nay mới gọi con gái bất trinh là đào hoa, nhà xem số gọi là số đào hoa cũng là do ý đó. · Dư đào [餘桃], Di Tử Hà [彌子瑕] ăn đào thấy ngon để dành dâng vua Vệ 衛, vì thế vua yêu, nay gọi kẻ đàn ông được ai yêu là dư đào là bởi cớ đó.
- Khi12 nét— bộ 76.8— qī
Dối lừa. Lừa mình, tự lừa dối mình gọi là tự khi [自欺]. · Lấn. Bị người ta lấn gọi là khi phụ [欺負].
- Én16 nét— bộ 86.12— yàn
Chim yến. · Yên nghỉ. Như yến tức [燕息] nghỉ ngơi, yến cư [燕居] ở yên, v.v. · Uống rượu. Như yến ẩm [燕飲] ăn uống, cùng nghĩa với chữ yến [宴]. · Quen, nhờn, vào yết kiến riêng gọi là yến kiến [燕見]. · Một âm là yên. Nước Yên, đất Yên.
- Cầm12 nét— bộ 96.8— qín
Cái đàn cầm. Đàn dài ba thước sáu tấc, căng bảy dây gọi là đàn cầm. Nguyễn Trãi [阮薦] : Giai khách tương phùng nhật bão cầm [佳客相逢日抱琴] (Đề Trình xử sĩ Vân oa đồ [題程處士雲窩圖]) Khách quý gặp nhau, ngày ngày ôm đàn gảy.
- Thiệt6 nét— bộ 135.0— shé
Lưỡi. · Lưỡi dùng để nói, nên người nào nói nhiều gọi là nhiêu thiệt [饒舌], người diễn dịch sách gọi là thiệt nhân [舌人].
- Áo9 nét— bộ 145.4— ǎo
Tục dùng như chữ áo [襖]. · Giản thể của chữ [襖].
- Đinh10 nét— bộ 167.2— dīng
Cái đinh. · Một âm là đính. Đóng đinh.
- Giá15 nét— bộ 187.5— jià
Đóng xe ngựa (đóng ngựa vào xe). · Giá ngự. Như tràng giá viễn ngự [長駕遠馭] tiết chế được cả phương xa. · Xe cộ. Như vua xuất hành có chia ra đại giá [大駕] và pháp giá [法駕]. Đại giá là nói về chuyến đi có nhiều xe theo hầu, pháp giá là nói về chuyến đi có ít xe theo hầu. Song đều gọi tắt là giá. Vì thế nên gọi sự vua xuất hành là giá. · Một tiếng dùng để xưng hô tôn trọng người khác. Như tạ ơn người ta đến thăm mình gọi là lao giá [勞駕], ước hẹn đón người ta đến chơi gọi là túc giá [夙駕]. · Tiến hành. Như trình độ trình độ tiến ngang nhau gọi là tịnh giá tề khu [並駕齊驅]. Cũng có khi gọi là phương giá tề khu [方駕齊驅]. · Biệt giá [別駕] một chức quan giúp việc quan thứ sử, cũng như chức thông phán bây giờ.
- Khâu5 nét— bộ 1.4— qiū
Cái gò, tức là đống đất nhỏ. · phép tỉnh điền ngày xưa chia bốn tỉnh là ấp, bốn ấp là khâu. · Hợp, ngày xưa gọi sách địa dư là cửu khâu [九丘] nghĩa là các thứ trong chín châu đều hợp cả ở đấy. · Nhớn, ngày xưa gọi chị dâu trưởng là khâu tẩu [丘嫂]. · Tên đức Khổng tử, vì thế sách nhà Hán đổi chữ [丘] làm [邱]. · Một âm là khiêu. Như tỉ khiêu [比丘] dịch âm tiếng Phạn (bhikkhu), người tu hành đạo Phật đã chịu đủ 250 giới luật, lần lượt đến các nhà xin ăn, trên cầu tu cho thành Phật, dưới hóa độ cho chúng sinh.
- Thẩm15 nét— bộ 40.12— shěn
Xét rõ, xét kĩ. · Xét đoán, xét hỏi. Nay nha tư pháp có một tòa gọi là thẩm phán sảnh [審判廳] là chỗ xét hỏi hình ngục kiện tụng vậy. · Dùng làm tiếng giúp lời, có cái ý quyết định hẳn. Như thẩm như thị dã [審如是也] xét quả đúng như thế vậy.
- Giẻ14 nét— bộ 50.12— bì
Lụa, đời xưa thường dùng làm đồ tặng nhau. · Của dùng. Đời xưa cho ngọc là thượng tệ [上幣], vàng là trung tệ [中幣], dao vải là hạ tệ [下幣]. $ Ghi chú : Quản Tử [管子] : Dĩ châu ngọc vi thượng tệ, dĩ hoàng kim vi trung tệ, dĩ đao bố vi hạ tệ [以珠玉為上幣, 以黃金為中幣, 以刀布為下幣] (Quốc súc [國蓄]). · Từ nhà Hán [漢] về sau đều gọi tiền là tệ. Như hoán tệ [換幣] đổi tiền.
- Dan20 nét— bộ 64.17— lán
Ngăn. Nguyễn Trãi [阮廌] : Trúc hữu thiên can lan tục khách [竹有千竿攔俗客] (Họa hữu nhân yên hà ngụ hứng [和友人煙霞寓興]) Trúc có nghìn cây ngăn khách tục.
- Kiêu15 nét— bộ 85.12— jiāo
Bạc, mỏng. Như kiêu bạc [澆薄] khinh bạc. · Tưới. Nguyễn Du 阮攸 : Sinh tiền bất tận tôn trung tửu, Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi [生前不盡樽中酒, 死後誰澆墓上杯] (Đối tửu [對酒]) Lúc sống không uống cạn rượu trong bầu, Thì chết rồi ai rưới chén rượu trên mồ ? $ Có nơi đọc là nghiêu.
- Thưởng15 nét— bộ 154.8— shǎng
Thưởng, thưởng cho kẻ có công. · Khen, thưởng thức cho là hay là đẹp mà khen lao, mà ngắm nghía gọi là thưởng. Giả Đảo [賈島] : Nhị cú tam niên đắc, Nhất ngâm song lệ lưu. Tri âm như bất thưởng, Quy ngọa cố sơn thu [二句三年得,一吟雙淚流,知音如不賞,歸臥故山秋] (Tuyệt cú [絕句]). Trần Trọng San dịch thơ : {Hai câu làm mất ba năm, Một ngâm lã chã hai hàng lệ rơi. Tri âm nếu chẳng đoái hoài, Trở về núi cũ nằm dài với thu.
- Tàn12 nét— bộ 9.10— sǎn
Cái tán.
- Tinh12 nét— bộ 72.8— jīng
Trong suốt. Vật gì có chất sáng suốt bên nọ sang bên kia gọi là tinh oánh [晶瑩]. · Thủy tinh, là một thứ đá sáng suốt như ngọc. Chất mỏ kết hợp lại thành hạt gọi là kết tinh [結晶].
- Thiệp10 nét— bộ 85.7— shè
Lội. Lội qua sông gọi là thiệp [涉], qua bãi cỏ gọi là bạt [跋], vì thế đi đường khó nhọc gọi là bạt thiệp [跋涉] lặn lội. · Sự gì có quan hệ liên lạc với nhau gọi là thiệp. Như giao thiệp [交涉], can thiệp [干涉], v.v. · Sự gì không quan thiệp đến gọi là vô thiệp [無涉].
- A3 nét— bộ 2.2— yā
Xòe, phàm vật gì trên phân từng trạnh xòe ra gọi là nha [丫]. Tục gọi con hầu gái là nha hoàn [丫環] vì đầu nó có hai trái đào vậy.
- Liêu14 nét— bộ 9.12— liǎo
Người bằng vai, là người bạn cùng làm việc. Như quan liêu [官僚] người cùng làm quan với mình, cũng gọi là đồng liêu [同僚]. · Anh em rể cũng gọi là liêu tế [僚婿].
- Hiến16 nét— bộ 61.12— xiàn
Pháp, yết các điều pháp luật lên cho người biết mà theo gọi là hiến. Nước nào lấy pháp luật mà trị nước gọi là lập hiến quốc [立憲國]. Nguyễn Trãi [阮廌] : Đáo để chung đầu hiến võng trung [到底終投憲網中] (Hạ tiệp [賀捷]) Cuối cùng rồi phải sa vào lưới pháp luật. · Tục cũ gọi các quan trên là hiến. Như đại hiến [大憲], hiến đài [憲臺] cũng như ta kêu là Cụ lớn vậy, v.v.
- Miêu11 nét— bộ 64.9— miáo
Phỏng vẽ, nghĩa là trông bức vẽ nào hay chữ nào mà vẽ phỏng ra, viết phỏng ra cho giống vậy. Như miêu tả [描寫] dùng nét vẽ hoặc lời văn mà vẽ lại, viết lại những điều mình thấy. · Cái ván trẻ con viết dạm (tô lại) cũng gọi là miêu hồng [描紅].
- Lãng10 nét— bộ 74.7— lǎng
Sáng. Như thiên sắc thanh lãng [天色清朗] màu trời trong sáng. · Lãng lãng [朗朗] (1) Sáng sủa, rực rỡ. (2) Lanh lảnh, sang sảng. Tây sương kí [西廂記] : Mạo đường đường, thanh lãng lãng [貌堂堂, 聲朗朗] (Đệ nhất bổn 第一本) Vẻ mặt bệ vệ, tiếng nói sang sảng.
- Nhu9 nét— bộ 75.5— róu
Mềm, mềm yếu, mềm mại. Như nhu nhuyễn [柔軟] mềm lướt, nhu thuận [柔順] nhún thuận, v.v. · Phục, làm cho yên. Như nhu viễn nhân [柔遠人] làm cho người xa phục. · Cây cỏ mới mọc.
- Quất16 nét— bộ 75.12— jú
Cây quất (cây quýt).
- Hi12 nét— bộ 115.7— xī
Thưa thớt. Như địa quảng nhân hi [地廣人稀] đất rộng người thưa. · Lỏng. Như hi chúc [稀粥] cháo loãng. · Ít, hiếm có. Đỗ Phủ [杜甫] : Tửu trái tầm thường hành xứ hữu, Nhân sinh thất thập cổ lai hi [酒債尋常行處有, 人生七十古來稀] (Khúc giang [曲江]) Nợ rượu tầm thường đâu chẳng có, Đời người bảy chục hiếm xưa nay.
- Gan7 nét— bộ 130.3— gān
Gan, một cơ quan sinh ra nước mật, ở mé tay phải bên bụng, sắc đỏ lờ lờ, có bốn lá. · Can đảm, gan góc. Nguyễn Trãi [阮 薦] : Phong ba bất động thiết tâm can [風波不動鐵心肝] (Vân Đồn [雲 屯]) Sóng gió không lay chuyển tấm lòng gang thép.
- Long11 nét— bộ 170.9— lóng
Đầy ùn, đầy tù ụ, đầy đặn lại lớn lao. Vì thế nên cái gì lồi lên trội lên gọi là long khởi [隆起]. · Thịnh, dày. Như đức long vọng trọng [德隆望重] đức thịnh giá trọng. · Hậu. Như chí nghị long tình [摯誼隆情] nghĩa thiết tình hậu. · Long long [隆隆] ù ù, tiếng sấm động. · Tôn quý, cao nhất. · Lớn.
- Ngoan13 nét— bộ 181.4— wán
Ngu, ương, không biết gì mà lại làm càn gọi là ngoan. · Tham. Như ngoan phu liêm [頑夫廉] kẻ tham hóa liêm. · Chơi đùa.
- Lừa26 nét— bộ 187.16— lǘ
Con lừa.
- Xướng10 nét— bộ 9.8— chāng
Hát, làm thơ làm ca, ai làm trước gọi là xướng [倡] kẻ nối vần sau gọi là họa [和], vì thế nên ai làm gì trước nhất đều gọi là đề xướng [提倡]. · Một âm là xương. Xương ưu [倡優] con hát. · Xương cuồng [倡狂] rồ dại (sằng bậy), có khi viết là [猖].
- Ai9 nét— bộ 30.6— āi
Thương. Nguyễn Du 阮攸 : Thế sự phù vân chân khả ai [世事浮雲眞可哀] (Đối tửu [對酒]) Việc đời như mây nổi thật đáng thương. · Không có mẹ gọi là ai. Kẻ để tang mẹ mà còn cha gọi là ai tử [哀子].
- Đê12 nét— bộ 32.9— dǐ
Cái đê. · Đồ gốm dưới đít bằng phẳng gọi là đê.
- Dì9 nét— bộ 38.6— yí
Dì. Chị em với mẹ gọi là di. · Chị em vợ cũng gọi là di. Ngày xưa các vua chư hầu gả chồng cho con gái, thường kén mấy con gái trong họ đi theo để làm bạn với con, cho nên sau gọi vợ lẽ là di.
- Sùng11 nét— bộ 46.8— chóng
Cao. Như sùng san [崇山] núi cao. · Chuộng, tôn trọng. Ngôi vọng cao quý gọi là sùng. Tôn trọng ai mà một lòng kính phục gọi là sùng bái [崇拜]. · Trọn. Như sùng triêu [崇朝] trọn một buổi sớm. · Đầy đủ.
- Miếu8 nét— bộ 53.5— miào
Giản thể của chữ 廟
- Miếu15 nét— bộ 53.12— miào
Cái miếu (để thờ cúng quỷ thần). Như văn miếu [文廟] đền thờ đức Khổng Tử [孔子]. · Cái điện trước cung vua. Vì thế nên mọi sự cử động của vua đều gọi là miếu. Như miếu toán [廟算] mưu tính của nhà vua. Nguyễn Trãi [阮廌] : Miếu toán tiên tri đại sự thành [廟算先知大事成] (Hạ quy Lam Sơn [賀歸藍山]) Sự suy tính nơi miếu đường đã biết trước việc lớn sẽ thành. · Chỗ làm việc ở trong nhà cũng gọi là miếu.
- Dang6 nét— bộ 54.4— yán
Kéo dài. Như duyên niên [延年] thêm tuổi, duyên thọ [延壽] thêm thọ, v.v. · Kéo dài con đường tiến đi, khiến cho không tới được đúng kỳ gọi là duyên. Như duyên hoãn [延緩], duyên đãng [延宕] kéo dài cho chậm tiến. Rụt lùi lại gọi là thiên duyên [遷延] lần lữa. Quanh co, không tiến gọi là uyển duyên [宛延]. · Xa. Như duyên mậu vạn dư lí [延袤萬餘里] dài suốt hơn muôn dặm. · Tiến nạp, mời vào, rước tới. Như duyên sư [延師] rước thầy, duyên khách [延客] mời khách, v.v. · Kịp, sự gì dắt dây tới gọi là duyên.
- Thang12 nét— bộ 85.9— tāng
Nước nóng. · Vua Thang. · Một âm là sương. Nước chảy cuồn cuộn. · Lại một âm nữa là thãng. Ngâm nước nóng, dội nước sôi. · Cùng nghĩa với chữ đãng [蕩].
- Đồng12 nét— bộ 117.7— tóng
Trẻ thơ. Mười lăm tuổi trở lại gọi là đồng tử [童子], mười lăm tuổi trở lên gọi là thành đồng [成童]. Luận ngữ [論語] : Quán giả ngũ lục nhân, đồng tử lục thất nhân, dục hồ Nghi, phong hồ Vũ Vu, vịnh nhi quy [冠者五六人,童子六七人,浴乎沂,風乎舞雩,詠而歸] Năm sáu người vừa tuổi đôi mươi, với sáu bảy đồng tử, dắt nhau đi tắm ở sông Nghi rồi lên hứng mát ở nền Vũ Vu, vừa đi vừa hát kéo nhau về nhà. · Trâu dê không có sừng, núi không có cây cỏ cũng gọi là đồng. · Tuổi già trụi tóc cũng gọi là đồng. · Ngày xưa dùng chữ đồng [童] như chữ đồng [僮] nghĩa là thằng nhỏ. Con trai có tội phải làm đầy tớ quan gọi là đồng. · Đồng đồng [童童] um tùm, rậm rạp. Nguyễn Trãi [阮廌] : Nham trung hữu tùng, Vạn cái thúy đồng đồng [岩中有松,萬蓋翠童童] (Côn sơn ca [崑山歌]) Trong núi có thông, Muôn chiếc lọng biếc um tùm.
- Canh10 nét— bộ 127.4— gēng
Cầy ruộng. Như canh tác [耕作] cầy cấy, chỉ việc làm ruộng. · Phàm dùng sức làm một việc gì khó nhọc mới được miếng ăn đều gọi là canh. Như thiệt canh [舌耕] cầy bằng lưỡi (tức dạy học), bút canh [筆耕] viết thuê, v.v. · Gắng sức làm không mỏi cũng gọi là canh.
- Quỳ13 nét— bộ 157.6— guì
Quỳ, quỳ gối. Như song tất quỵ địa [雙膝跪地] hai gối quỳ xuống đất. · Chân cua.
- Sấm18 nét— bộ 169.10— chèn
Ló đầu ra. · Tục gọi sự xông vào là sấm. Như sấm tịch [闖席] xông vào mâm ngồi ăn, vào dự tiệc nửa chừng. · Thình lình xảy ra. Như sấm họa [闖禍] vô cố mà sinh họa.
- Phở14 nét— bộ 181.5— pō
Lệch, không bằng, không được bằng phẳng. · Một âm là phả, dùng làm trợ từ. Vả, hơi. Như phả đa [頗多] hơi nhiều, phả thiểu [頗少] hơi ít. Đem hai mặt so sánh nhau, cái chỗ hơn kém nhau một chút đó gọi là phả. · Hết, đều. · Rất, lắm. Tô Mạn Thù [蘇曼殊] : Dư tâm vị thị liên phả công chỉnh [余心謂是聯頗工整] (Đoạn hồng linh nhạn kí [斷鴻零雁記]) Tôi trong lòng thầm nghĩ rằng hai câu đối thật là thâm trầm chỉnh đốn.
- Bột9 nét— bộ 19.7— bó
Thốt nhiên. Như bột nhiên động [勃然動] thốt nhiên động. · Bừng bừng. Như sắc bột như dã [色勃如也] sắc mặt bừng bừng, tả cái sắc mặt thay đổi. · Ùn, tả cái vẻ thịnh vượng. Như bồng bột [蓬勃] lên ùn ùn.
- Giá13 nét— bộ 38.10— jià
Lấy chồng. Kinh Lễ định con gái hai mươi tuổi thì lấy chồng gọi là xuất giá [出嫁]. · Vẩy cho, trút cho người khác. Gieo tiếng ác cho người gọi là giá họa [嫁禍].
- Cô8 nét— bộ 39.5— gū
Mồ côi. Mồ côi cha sớm gọi là tảo cô [早孤]. · Cô độc. Như cô lập vô trợ [孤立無助] trọi một mình không ai giúp. Học thức dốt nát hẹp hòi gọi là cô lậu [孤陋], tính tình ngang trái gọi là cô tịch [孤僻] đều là cái ý nghĩa không cùng hòa hợp với chúng cả. · Trọi trót, vật gì vượt ra hơn các vật khác gọi là cô. Như cô sơn [孤山] núi trọi, cô thụ [孤樹] cây trọi, v.v. · Quan cô, dưới quan Tam Công có quan tam cô [三孤], tức thiếu sư [少師], thiếu phó [少傅], thiếu bảo [少保]. · Tiếng nói nhún mình của các vua chư hầu, nghĩa là mình tự khiêm mình là kẻ đức độ kém. Đời sau gọi các vua là xưng cô đạo quả [稱孤道寡] là theo ý ấy. · Phụ bạc. Như cô ân [孤恩] phụ ơn.
- Quyền10 nét— bộ 64.6— quán
Nắm tay lại. · Nhỏ bé. Như quyền thạch [拳石] hòn đá con. · Quyền quyền [拳拳] chăm chăm giữ lấy (khư khư). · Nghề cuồn, một môn võ đánh bằng chân tay không. Như quyền cước [拳脚] môn võ dùng tay và chân.
- Sái9 nét— bộ 85.6— xǐ
Vẩy nước rửa. · Một âm là tẩy. Gội rửa. · Tẩy nhiên [洒然] sợ hoảng, sửng sốt. · Lại một âm là thối. Chót vót. · Giản thể của chữ [灑].
- Hiếp10 nét— bộ 130.6— xié
Sườn, ở hai bên ngực. Như Tấn công tử Trùng Nhĩ biền hiếp [晉共公重耳駢脅] công tử Trùng Nhĩ xương sườn liền thành một mảng. · Ăn hiếp. Như hiếp chế [脅制] bắt hiếp người, bắt ép phải làm xằng gọi là hiếp tòng [脅從]. · Trách móc.
- Trướng12 nét— bộ 130.8— zhàng
Trương. Bụng đầy rán lên gọi là phúc trướng [腹脹]. Nề sưng gọi là thũng trướng [腫脹].
- Hoang9 nét— bộ 140.6— huāng
Bỏ hoang, đất đầy những cỏ gọi là hoang. Nên ruộng chưa vỡ cỏ, chưa cầy cấy được gọi là hoang điền [荒田] ruộng hoang. Khai hoang [開荒], khẩn hoang [墾荒] đều nghĩa là khai khẩn ruộng bỏ hoang cả. Ruộng vẫn cấy được, mà vì tai biến lúa không chín được, cũng gọi là hoang. Như thủy hoang [水荒] bị lụt, hạn hoang [旱荒] đại hạn. · Việc gì đang làm nửa chừng mà bỏ gọi là hoang. Như hoang khóa [荒課] bỏ dở khóa học. · Phóng túng, không biết giữ gìn gọi là hoang. Như hoang đường [荒唐], hoang mậu [荒謬]. · Cõi đất xa xôi. Như bát hoang [八荒] tám cõi xa xôi, chỗ đất vắng vẻ ít người ở gọi là hoang lương [荒涼]. Nguyễn Trãi [阮廌] : Dã kính hoang lương hành khách thiểu [野徑荒涼行客少] (Trại đầu xuân độ [寨頭春渡]) Nẻo đồng heo hút ít người qua. · Bỏ. · To lớn. · Hư không. · Che lấp. · Mê man không tự xét lại.
- Đình9 nét— bộ 8.7— tíng
Cái đình, bên đường làm nhà cho khách qua lại trọ gọi là quá nhai đình [過街亭]. Trong các vườn công, xây nhà cho người đến chơi nghỉ ngơi ngắm nghía gọi là lương đình [涼亭]. · Phép nhà Hán chia đất cứ mười dặm là một đình, mười đình là một làng, nên người coi việc làng là đình trưởng [亭長], tức lý trưởng bây giờ. · Dong dỏng. Như đình đình ngọc lập [亭亭玉立] dong dỏng cao như ngọc đẹp, tả cái dáng người đẹp. · Đến. Như đến trưa gọi là đình ngọ [亭午].
- Điền13 nét— bộ 32.10— tián
Lấp, lấp cho đầy hố gọi là điền. Lý Hoa [李華] : Thi điền cự cảng chi ngạn, huyết mãn trường thành chi quật [屍填巨港之岸, 血滿長城之窟] (Điếu cổ chiến trường văn [弔古戰場文]) Thây lấp bờ cảng lớn, máu ngập đầy hào trường thành. · Phàm tờ bồi gì in mẫu sẵn chừa chỗ để biên tên họ, v.v. vào gọi là điền. · Đồ đạc gì đã chạm trổ hoa lài thêm các mùi gọi là điền. · Ầm ầm, tiếng đánh trống. · Một âm là trần. Lâu. · Lại một âm là điễn. Hết, ốm. · Lại một âm nữa là trấn, cùng nghĩa với chữ trấn [鎭].
- Thoả7 nét— bộ 38.4— tuǒ
Yên. Như thỏa thiếp [妥帖] (cũng viết là [妥貼]) đặt yên vừa đúng, thỏa đáng [妥當] vừa khéo vừa đúng, v.v.
- Hoạn11 nét— bộ 61.7— huàn
Lo. Như hoạn đắc hoạn thất [患得患失] lo được lo mất. · Tai hoạn. Như hữu bị vô hoạn [有備無患] có phòng bị không lo vạ. · Tật bệnh. Như hoạn bệnh [患病] mắc bệnh. Pháp Hoa Kinh [法華經] : Tốc trừ khổ não, vô phục chúng hoạn [速除苦惱, 無復眾患] (Như Lai thọ lượng [如來壽量]) Mau trừ khổ não, hết còn các bệnh tật.
- Tiệt14 nét— bộ 62.10— jié
Cắt đứt. Như tiệt tràng bổ đoản [截長補短] cắt dài vá ngắn. · Đoạn. Vật gì cắt ta từng khúc gọi là nhất tiệt [一截] một đoạn. · Đánh chặn đường. Như tiệt sát [截殺] đem binh đánh chặn đội quân giặc, tiệt lưu [截留] khấu bớt lại. · Tiệt nhiên, phân biệt rõ ràng đâu ra đấy không dính dáng gì với nhau nữa. Như lấy dao mà cắt đứt hẳn ra, cho nên đối với sự cầu của ai mà nhất định không ưng đều gọi là tiệt nhiên [截然]. · Tiệt tiệt [截截] xắm nắm. Tả cái dáng liệu biện công việc.
- Ức7 nét— bộ 64.4— yì
Đè nén. Như ức chế [抑制]. · Đè xuống. · Chỉn, hay (lời nói chuyển câu). Như cầu chi dư, ức dư chi dư [求之與抑與之與] cầu đấy ư ? hay cho đấy ư ?
- Chúc10 nét— bộ 86.6— chóng
Giản thể của chữ 燭
Câu hỏi thường gặp
- Hán Việt là gì?
- Hán Việt là cách đọc chữ Hán theo âm Việt - hệ thống phiên âm hình thành qua hơn nghìn năm tiếp xúc văn hoá Việt - Trung. Mỗi chữ Hán mang một âm Hán Việt riêng, vd 明 đọc là 'minh', 山 đọc là 'sơn'. Hán Việt được dùng trong văn chương cổ điển, đặt tên người, văn bia, lịch pháp Việt Nam cho tới ngày nay.
- Tại sao từ điển chỉ có 8,306 chữ?
- Đây là số chữ có thuộc tính kVietnamese trong Unicode Unihan database (UAX #38) - cơ sở dữ liệu chuẩn quốc tế cho ký tự Hán. Không phải toàn bộ ~80,000 chữ CJK đều có âm Hán Việt được Unicode chính thức ghi nhận. Một số chữ Hán Nôm cổ chưa được chuẩn hoá Unicode và sẽ được bổ sung theo từng đợt mở rộng tập ký tự.
- Khang Hy Tự Điển là gì?
- Khang Hy Tự Điển (康熙字典) là từ điển Hán văn được biên soạn dưới triều vua Khang Hy nhà Thanh, xuất bản năm 1716 với 47,035 chữ Hán. Đây là chuẩn được dùng để đếm số nét và phân loại bộ thủ (214 bộ) cho mọi chữ Hán. Số nét Khang Hy thường khác cách đếm hiện đại do bao gồm bộ thủ truyền thống.
- Nguồn dữ liệu từ điển này từ đâu?
- Phiên âm Hán Việt và số nét lấy từ Unicode Unihan database chính thức của Unicode Consortium, license cho phép sử dụng tự do với attribution. Unicode IRG (Ideographic Rapporteurs' Group) là nơi chuẩn hoá ký tự CJK, có sự tham gia của Vietnamese Nôm Preservation Foundation (VNPF). Với ~105 chữ thường dùng đặt tên, NGUHANH bổ sung thêm ngũ hành và gợi ý sử dụng dựa theo các sách đặt tên truyền thống.
- Một chữ Hán có thể có nhiều âm Hán Việt không?
- Có. Một chữ Hán có thể mang nhiều âm tuỳ ngữ cảnh - vd chữ 樂 vừa đọc 'lạc' (vui, an lạc) vừa đọc 'nhạc' (âm nhạc). Trong từ điển, mỗi chữ hiển thị âm chính và các âm thay thế ở phần Thông số - 'Phiên âm thay thế'. Việc chọn âm nào phụ thuộc nghĩa và truyền thống địa phương.
- Sao chữ này có meaning Việt, chữ kia chỉ có nghĩa tiếng Anh?
- NGUHANH ưu tiên biên soạn nghĩa Việt cho ~105 chữ thường dùng đặt tên người Việt, gắn thêm ngũ hành và gợi ý giới tính. Với 8,000+ chữ còn lại, hiện chỉ hiển thị nghĩa tiếng Anh từ Unihan kDefinition để tham khảo. Bảng đang được bổ sung dần - quý gia chủ phát hiện sai sót hoặc muốn đóng góp xin liên hệ.
Tra cứu liên quan
Phiên âm Hán Việt và số nét tham khảo Unicode Unihan database (UAX #38, kVietnamese + kTotalStrokes + kRSKangXi). Nghĩa Việt tham khảo Thiều Chửu Hán Việt Tự Điển 1942 (Public Domain). Nghĩa và ngũ hành đặt tên cho ~105 chữ phổ biến do NGUHANH biên soạn theo các sách đặt tên truyền thống. Bảng đang được bổ sung - có thể còn sót hoặc sai. Quý gia chủ phát hiện nhầm lẫn xin báo qua mục liên hệ để NGUHANH rà lại.